Công Ðồng Vatican II đối với vấn đề ơn cứu độ cho những người ngoài Kitô giáo, trong hiến chế về Giáo Hội “Ánh Sáng Muôn Dân” (Lumen Gentium), một mặt nhắc lại tính quan trọng của ơn cứu độ trong Giáo Hội,
Gioan Phêny Ngân Giang, OP.
DẪN NHẬP
Công Ðồng Vatican II đối với vấn đề ơn cứu độ cho những người ngoài Kitô giáo, trong hiến chế về Giáo Hội “Ánh Sáng Muôn Dân” (Lumen Gentium), một mặt nhắc lại tính quan trọng của ơn cứu độ trong Giáo Hội, nhưng một mặt lại mở rộng phạm vi của Giáo Hội; những kitô hữu đã chịu phép Rửa tội thì đương nhiên là những con cái của giáo hội, nhưng những người ngoài Kitô giáo chưa lãnh nhận Tin Mừng, nhờ vào nhiều phương cách khác nhau cũng có liên quan tới đoàn thể Dân Chúa: “vả lại những người ngoài Kitô giáo kia, nếu không phải do lỗi ở chính mình mà không nhận biết Tin Mừng của Ðức Kitô và Giáo Hội của Ngài, nhưng thành tâm tìm kiếm Thiên Chúa, dựa theo những chỉ dẫn của lương tâm, nhờ vào ơn Chúa soi sáng, thực hành Thánh Ý Thiên Chúa, họ cũng có thể có được sự sống đời đời.”[1]
QUAN NIỆM VỀ ƠN CỨU ĐỘ GIỮA KITÔ GIÁO VÀ CÁC TÔN GIÁO
Khi bàn về ơn cứu độ trong bối cảnh liên tôn Tông huấn Verbum Domini nói rằng: “Đối thoại liên tôn, chính là thời gian ra khỏi chính mình để gặp gỡ và hiểu biết những người khác như họ là, chứ không phải như chúng ta nghĩ và hiểu về họ. Hơn nữa, ra khỏi chính mình không đơn giản nhằm gặp gỡ và hiểu người khác như họ là, nhưng còn gặp gỡ và hiểu biết vị Thiên Chúa của chúng ta còn lớn hơn chúng ta nghĩ về Ngài. Chính vì thế, loan báo Lời Thiên Chúa luôn luôn yêu cầu, với chúng ta trước tiên, một cuộc xuất hành mới, là rời bỏ các khung cảnh và các lối hình dung giới hạn của chúng ta để dành chỗ cho sự hiện diện của Đức Kitô trong chúng ta”.[2]
Trong Sứ Ðiệp của Thượng Hội Ðồng Giám Mục Á Châu gửi toàn thể Dân Chúa, được công bố ngày 13/05/98, tại Phòng Báo Chí Tòa Thánh, trong phần liên quan tới các tôn giáo lớn tại Á Châu, các nghị phụ đã công bố:”Chúng tôi kính cẩn gửi lời chào đến tất cả anh chị em chúng tôi tại Á Châu đã đặt niềm tin tưởng của mình vào những truyền thống tôn giáo khác. Chúng tôi vui mừng nhìn nhận những giá trị thiêng liêng của những tôn giáo cao cả của Á Châu như Ấn Ðộ Giáo, Phật Giáo, Do Thái Giáo và Hồi Giáo… Chúng tôi quý trọng những giá trị luân lý trong những phong tục và những thực hành có mặt trong những lời dạy của các Triết gia nổi tiếng của Á Châu; những lời dạy của các ngài cổ võ phát triển những nhân đức tự nhiên và lòng sùng kính đạo đức đối với tổ tiên. Chúng tôi cũng kính trọng những niềm tin và những thực hành tôn giáo của những anh chị em bản xứ hay của các bộ tộc; lòng kính trọng của những anh chị em này đối với toàn thể tạo vật diễn tả cho thấy sự gần gủi của họ với Ðấng Tạo Hóa.”
Hiến chế Giáo Hội “Ánh Sáng Muốn Dân” (Lumen Gentium) nói rằng: Kể cả những người chưa nhận biết Thiên Chúa, hay không có tín ngưỡng, chỉ cần họ thành tâm thiện ý và hành động căn cứ theo lương tâm, Thiên Chúa cũng sẽ ban cho họ những ơn ích cần thiết để giúp họ được cứu độ. Hiến chế cũng nhắc đến trách nhiệm truyền giáo của Giáo hội, nhưng giải thích rằng, trong khi rao giảng Tin Mừng, Giáo hội không có ý loại bỏ những chân lý và thiện mỹ của những truyền thống của các tôn giáo hay văn hóa, nhưng muốn bảo tồn những điểm này, và đưa những truyền thống này đến nơi viên mãn của nó.[3]
Karl Rahner với cái nhìn nhân học đã giúp người Kitô hữu hiểu rõ và hiểu chính xác hơn quan điểm của Giáo Hội về ơn cứu độ cho những người ngoài kitô giáo. Karl Rahner lấy lại tư tưởng của J. Maréchal cho rằng con người có ước muốn tự nhiên hưởng kiến hạnh phúc. Ước muốn này tuy bị điều kiện hóa nhưng vẫn là một khao khát tuyệt đối. Ước muốn hưởng kiến hạnh phúc này, được gọi là tự nhiên vì nếu con người cố ý gạt bỏ nó, con người sẽ không đạt được sự triển nở toàn vẹn và hạnh phúc.[4] Lập trường của Karl Rahner cũng xác tín rằng Ðức Kitô hoạt động trong mọi người, do đó, kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa bao gồm tất cả các tôn giáo vào trong Ðức Kitô, nghĩa là bất cứ ơn cứu độ nào cũng đều là ơn của Ðức Kitô.[5] Là Thiên Chúa nhập thể, tất Ðức Giêsu là Ðấng tuyệt đối. Trong lịch sử loài người, Ðức Kitô là người duy nhất đã chết và đã sống lại. Giữa hai điểm mốc này, biến cố Ðức Kitô đã diễn ra với một ý nghĩa và sức năng cứu độ phổ quát.[6]
TÍNH ĐỘC ĐÁO CỦA ƠN CỨU ĐỘ KITÔ GIÁO
Một vấn nạn gai góc được đặt ra: Thiên Chúa muốn cứu độ mọi người, và Ðức Kitô là Ðấng Cứu tinh duy nhất và phổ quát; thế thì tại sao đại đa số trong loài người không biết đến Ngài, thậm chí không chịu nhận Ngài. Nếu thánh Phaolô đã nói ở Athen về vị “Thần vô danh” (Cv 17:23), thì ngày nay chúng ta cũng có thể nói về “Ðức Kitô vô danh” ở giữa đám đông, đặc biệt là ở trong các tôn giáo.[7] Nếu không chấp nhận chân lý này, thì thế nào cũng phải hỏi: Tại sao Ðức Giêsu đó? Tại sao không phải là Platon, Socrates, Ðức Phật, Khổng Tử hay một nhân vật nào khác?
Nhưng ở đây chúng ta nói tới Ðấng trung gian duy nhất có thể dùng đến nhiều cách thế để chuyển ban ơn cứu độ cho mỗi người. Truyền thống đã ý thức rằng “Thần Khí của Ðức Chúa ngập tràn cõi đất” (Kn 1:7), hoặc muôn vật trong trời đất đều đồng thanh nói lên sự hiện hữu của Ðấng Tạo hóa (Rm 1:20). Thần Khí hoạt động ở đâu thì ơn cứu độ của Ðức Kitô hoạt động ở đó; và vì Thần Khí bởi Cha và Con mà ra, nên là “Thần Khí của Ðức Kitô.” Theo thần học cổ truyền, nếu Thần Khí có thánh hóa thì đó là “nhờ công đức của Ðức Kitô”; chóp đỉnh của lịch sử cứu độ là mầu nhiệm nhập thể và phục sinh của Ðức Kitô; vì vậy, mọi hoạt động của Thần Khí đều quy chiếu về Ðức Kitô. Khách quan mà nói, nơi các hệ thống tư tưởng triết lý, đạo đức học hoặc tín ngưỡng, v.v. do trí óc loài người nắn đức nên, có thể có nhiều chân lý mà cũng có thể có nhiều điều sai lầm, nhưng “tất cả sự khôn ngoan đều phát xuất từ Ðức Chúa” (Hc 1:1) và đưa dẫn đến với Người dù có lẽ phải đi qua những con đường quanh co. Thần học hiểu rằng là Khôn ngoan của Thiên Chúa, Ðức Kitô chính là nguồn suối từ đó mọi khôn ngoan giữa loài người tựa như những hạt nước, nhỏ giọt ra.[8]
Như vậy, chân trời toàn diện của ơn cứu độ được chọn làm khởi điểm: ý định cứu độ phổ quát của Thiên Chúa bao trùm cả nhân loại kể từ thời khởi nguyên. Không ai có thể chối cãi được là có một thời trước Đức Kitô và một thời sau Đức Kitô, nhưng không thể nói là có “một thời có ơn cứu độ” và “một thời không có ơn cứu độ”. “Chỉ có một Thiên Chúa, chỉ có một Đấng trung gian duy nhât giữa Thiên Chúa và loài người: đó là một con người, Đức Giêsu Kitô, Đấng đã tự hiến làm giá chuộc mọi người” (1Tm 2,5-6).
BÍ TÍCH RỬA TỘI CẦN THIẾT CHO ƠN CỨU ĐỘ
Ơn cứu độ đến từ Đức Giêsu, Đặc biệt qua cuộc khổ nạn và phục sinh của Người; do vậy Hội thánh không ngừng rao giảng và cử hành bí tích Thánh Tẩy trong mầu nhiệm vượt qua của Con Thiên Chúa làm người. Hội thánh xác tín rằng Thiên Chúa yêu thương và cứu độ mọi người, Thiên Chúa không tự nhốt mình trong các bí tích, tuy thế chính Chúa Giêsu khẳng định bí tích Thánh Tẩy cần thiết để được ơn cứu độ. Chính vì vậy, Hội thánh vẫn không ngừng nói lên sự cần thiết phải cử hành bí tích Thánh Tẩy cho mọi người vì ơn cứu độ của họ, theo lệnh truyền của Đức Kitô: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép Rửa cho họ, nhân danh Chúa Cha, Chúa con, và Chúa Thánh Thần (Mt 28,19).[9]
Theo Kinh Thánh, việc loan báo Tin Mừng kích thích con người tìm hiểu biết Chúa và yêu Chúa. Bấy giờ, theo một quyết định tự do, con người đi vào tương quan với Chúa qua bí tích Rửa Tội, làm cho họ sống, qua biểu trưng bí tích, mầu nhiệm sự chết và sống lại của Chúa Kitô và cho họ sống một đời sống mới. Bí tích Rửa Tội cứu thoát con người và làm cho họ thành dưỡng tử của Chúa, bởi vì họ nhận lãnh Chúa Thánh Thần, Thần Khí của Chúa Con nhờ Người họ có thể hướng tới Chúa Cha, gọi Người là Cha, với một niềm tín thác như chính Chúa Giêsu. Nhờ bí tích Rửa Tội, con người trở thành một tạo vật mới về mặt thiêng liêng. Họ vào trong nhà Chúa, như thành phần dân Chúa, chi thể Thân Thể Chúa Kitô. Còn hơn nữa, bí tích Rửa Tội biến con người thành một thực thể tư tế: con người có khả năng sống đời sống của mình như một lời ngợi khen và như một sự hiến dâng chính mình và thế giới cho Chúa.[10]
KẾT LUẬN
Như vậy, lịch sử cứu độ của con người là lịch sử tình yêu và ân sủng của Thiên Chúa đối với con người; nói cách khác lịch sử mỗi người là lịch sử Thiên Chúa cứu độ người đó. Mọi biến cố xảy ra trong cuộc đời đều là biến cố tình yêu, ân sủng, cứu độ. Chỉ khi nào con người, dù là kitô hữu hay lương dân, cố tình từ khước tình yêu và ân sủng của Thiên Chúa, con người mới bị kết án mà thôi. Nguồn suối từ đó xuất phát ơn cứu độ là duy nhất, tức là có một không hai, và nguồn suối đó chính là Đức Giêsu Kitô: trong Ngài, với Ngài và nhờ Ngài, Thiên Chúa đã muốn thiết lập một mối quan hệ tình yêu và ân sủng với tất cả mọi người.[11] Trong phạm vi chân trời toàn diện của ơn cứu độ, Thiên Chúa hành động theo một “kế hoạch dựa trên khôn ngoan”, còn trong con đường lịch sử của kế hoạch cứu độ, thì Ngài hành động qua tác động bí tích. Từ ngữ “kế hoạch dựa trên khôn ngoan” muốn chỉ về hành động của Thiên Chúa triển khai trong thế giới “qua trung gian của sự Khôn ngoan và Thánh Linh của Ngài.[12]
