✉ hylecuoicung@gmail.comTrang thông tin Huấn Giáo

Thay Vì Kitô Giáo: Đức Giêsu Đấng Kitô – 02

“Dominus Iesus” là công thức của việc tuyên xưng đức tin vào Đức Giêsu Kitô: “Đức Giêsu là Chúa.”

ĐỨC GIÊSU KITÔ VÀ CÁC TÔN GIÁO

LUẬN VĂN VỀ THẦN HỌC CÁC TÔN GIÁO

Nguyên tác: JESUS CHRIST and the Religions: An Essay in Theology of Religions

Tác giả: Hans Waldenfels

Dịch giả: Trần Hữu Thuần

***

***

CHƯƠNG I

THAY VÌ KITÔ GIÁO: ĐỨC GIÊSU ĐẤNG KITÔ

(Instead of Christianity: Jesus the Christ)

 

“CHÚA GIÊSU”-  “Dominus Iesus”

“Dominus Iesus” là công thức của việc tuyên xưng đức tin vào Đức Giêsu Kitô: “Đức Giêsu là Chúa.” Vào ngày 5 tháng 9, 2000, Ủy ban Đức tin của Rôma xuất bản một tuyên cáo, được Hông y Joseph Ratzinger kí vào ngày 6 tháng 8, nhan đề theo các từ ngữ mở đầu “Dominus Iesus.” Hai từ ngữ diễn đạt một chương trình[1]: Tuyên cáo, trước mọi điều, đề cập đến Đức Giêsu Kitô, tính độc đáo và ý nghĩa phổ quát của Người với lịch sử cứu độ, và các chương cuối cùng, cũng đề cập đến Giáo hội. không may là ý hướng đầu tiên của bản văn có thể tiềm ẩn tại Trung Âu bởi vì sự chú ý công khai lập tức bị thu hút đến phần thứ hai của tuyên cáo cứu xét giáo hội và các cấu trúc phẩm trật nền tảng của Giáo hội và thất bại nhấn mạnh đến những gì hiệp nhất các Kitô hữu lại như là cộng đoàn các người đi theo Đức Kitô. Thay vào đó, nó đi đến một khẳng định có phần xúc phạm rằng một số trong các cộng đoàn giáo hội phải không được gọi là “các Giáo hội theo ý nghĩa thích đáng” (số 17).

Sự thực, ý hướng đích thực của Dominus Iesus được nhấn mạnh bởi các khuyến cáo (notifications) mà cùng hội đồng đã ban hành ngày 26 tháng 2, 2001. Ở đó, nó tuyên bố một số cảnh báo chống lại cuốn sách của Jacques Dupuis Dòng Tên, Hướng đến một nền thần học Kitô giáo về chủ thuyết số nhiều tôn giáo (Toward a Christian Theology of Religious Pluralism[2]). Nhan đề cuốn sách kêu gọi sự chú ý đến chính quan tâm của lời tuyên cáo: Nó chính là để nhắc nhở người tin vào sự độc đáo (the uniqueness) của Đức Giêsu trong một thời đại khi chủ thuyết số nhiều tôn giáo đang bành trướng và Đức Kitô được xem song hành với các nhà sáng lập tôn giáo khác và thậm chí trao qua đổi lại với họ. Theo quan điểm của việc nhấn mạnh mạnh mẽ đến Kitô giáo về sự quan trọng của hành động cứu độ của Đức Kitô cho lịch sử toàn thể loài người, câu hỏi được đặt ra: Vị trí nào đích thực là của Kitô giáo ở giữa các tôn giáo khác? Có phải Kitô giáo là tôn giáo duy nhất—và cuối cùng độc đoán—giữa các tôn giáo khác không? Hoặc liệu nó có nhấn mạnh đến các lí do chính đáng trên ý nghĩa cứu độ đặc biệt của Đức Giêsu Kitô không?

KHÔNG PHẢI KITÔ GIÁO: ĐỨC GIÊSU ĐẤNG KITÔ (Not Christianity: Jesus the Christ)

Câu trả lời đầu tiên cho câu hỏi này là: Kitô giáo không thể bắt đầu bằng cách tự trình diện như là một đối thể có cơ chế hoặc “một điều gì” (some thing) có thể so sánh với weltanschauung [3] sáng tạo văn hóa và các phương cách sống, với các tồ chức (giáo hội) và hệ thống (phẩm trật, giáo điều tôn giáo vv.); nó phải bắt đầu bằng cách kêu gọi sự chú ý đến một con người, đến Đức Giêsu xứ Nazareth, với Người đã bắt đầu một chuyển động mở ra cho toàn thể loài người, và trong đó chính vị sáng lập tiếp tục sống thậm chí vượt quá sự chết của Người,—chúng ta nói: sau sự phục sinh của Người. Do đó, trở thành một Kitô hữu theo ý nghĩa tràn đầy của từ ngữ không có nhiều ý nghĩa về việc thuộc về một nhóm weltanschauung hoặc thực hành cuộc sống được gọi là “Kitô giáo” hoặc thuộc về một tổ chức được gọi là “Giáo hội,” như là nó có ý nghĩa về tìm kiếm và giữ một cách hiện hữu phương cách sống của một người theo bước chân của Đức Giêsu xứ Nazareth, Đấng Kitô. Ý niệm căn bản có thể đánh mất (và đã đánh mất) cách diễn đạt tràn đầy của nó trong dòng chảy của lịch sử Kitô giáo và giáo hội, và phát triển nhiều cấp độ khác nhau về sự khác biệt. Thực sự ngày nay Kitô giáo chủ yếu được xem như là một chuyển động dựa trên và nguyên thủy được gợi hứng bởi Đức Giêsu xứ Nazareth, nhưng đã từ lâu chia thành nhiều nhánh; vào lúc cuối, nó hóa thành một hiện tượng văn hóa quan trọng trong lịch sử thế giới.

Điều đó không ngăn cản rằng Đức Giêsu xứ Nazareth vẫn là khuôn mặt trung tâm của Kitô giáo. Triết gia Karl Jaspers (1883-1969) nhận xét điều này trong một thảo luận cân nhắc vẫn có thể sử dụng như một hướng dẫn. Theo ông, Đức Giêsu xứ Nazareth thuộc về các người uy quyền và các khuôn mặt vĩ đại trong lịch sử. Hơn nữa, Jaspers xác nhận rằng chính bản thân ông vẫn có một điều để nói về ông chống lại các nhà thần học và chức quyền giáo hội không thể cấm cản ông gọi chính ông là một Kitô hữu:

Các nhà thần học có thể khinh miệt nói rằng đọc hiểu Kinh thánh mà thôi không làm cho một người thành một Kitô hữu. Tôi đáp trả lại rằng chẳng một ai biết được ai là một Kitô hữu. Tất cả chúng ta đều là Kitô hữu theo ý nghĩa về đức tin Kinh thánh, và bất cứ ai tuyên bố mình là một Kitô hữu phải được xem xét như thế. Chúng ta không cần tự để chúng ta bị quẳng ra khỏi ngôi nhà cha ông chúng ta đã cư ngụ qua một ngàn năm. Vấn đề là người ta đọc hiểu Kinh thánh làm sao, và nó làm người ta thành cái gì.

… Trên thế giới, người nào tự coi mình là một Kitô hữu phải là một người bị phán xét[4].

Sự thực, Đức Giêsu xứ Nazareth, Đức Giêsu Đấng Kitô vẫn là khuôn mặt quyết định của việc định hướng cho tất cả mọi điều đã phát triển trong Kitô giáo sau Người cho đến thời đại hiện tại của chúng ta thế nào để tính hợp pháp phải được khảo sát và đo lường theo quan điểm của Người. Điều này phải được duy trì thậm chí nếu tiến trình khảo sát có thể cũng được thảo luận nữa.

Để lặp lại lần nữa: Điểm khởi đầu quan trọng vì nhiều lí do. Khi các Bài giảng Humboldt của tôi tại Berlin được xuất bản năm 1994 với nhan đề Phӓnomen Christentum, cuốn sách có phụ đề Eine Weltreligion in der Welt der Religionen (= Một tôn giáo thế giới trong thế giới các tôn giáo)[5]. Điều này tương ứng với thực tại của ngày nay và mô tả quan điểm về Kitô giáo từ bên ngoài. Kitô giáo là một tôn giáo với nhiều yếu tố, điều trong khoa học tương đối về tôn giáo có thể được so sánh với các hiện tượng tương tự trong các tôn giáo khác. Dĩ nhiên, người ta cách hiện hữu thậm chí có thể đi đến các kết luận như “Không phải tất cả chúng ta đều tin vào một vị Thiên Chúa sao?” hoặc “Tất cả các tôn giáo đều bình đẳng.” Và sự thực ở đây cũng như bất cứ nơi nào khác trong đời sống công khai liên quan đến tôn giáo, tính độc đoán tôn giáo đã trở nên chọn lựa nổi bật cho nhiều người. Từ đó, họ “mua” những gì họ tìm thấy hữu dụng trên “siêu thị tôn giáo.” Chân lí của các tôn giáo không còn kể đến nữa, mà là sự hữu dụng của chúng.

Thường thái độ này được củng cố bởi sự kiện rằng trong một thời đại tràn đầy các đối kháng, con người thích tìm kiếm tính cộng đoàn, tìm kiếm những gì tập hợp nên hơn là nhhững gì chia cắt. Như là một nguyên tắc, việc tìm kiếm kết thúc ở tầm mức thấp nhất của việc đồng ý qua lại. Hiển nhiên điều này có lợi rằng—như nhiều người nghĩ thế—sự dung nạp có thể được thực thi dưới hình thái mơ hồ của lòng khoan dung qua lại và bằng việc từ bỏ câu hỏi về chân lí. Hơn nữa, chúng ta ngày nay tìm thấy một số lượng đang gia tăng những người không thỏa mãn với một phương cách sống ở tầm mức thấp nhất của sự đồng ý chung chỉ vì lợi ích hòa bình; họ nhận ra rằng quá nhiều điều bị đẩy qua một bên. Các người này tiếp tục tìm kiếm chân lí, và nhiều người thực hiện điều đó cách nghiêm chỉnh, bởi vì họ ao ước được đặt cội rễ trong sự tràn đầy của chân lí. Tuy nhiên, nơi đâu những người và nhóm khác nhau đang tìm kiếm chân lí, họ không thể tránh khỏi các quan điểm và khía cạnh đối kháng; từ đó họ không thoát khỏi các khác biệt và cơ hội để tranh đấu. Vì nếu các khác biệt nổi bật lên và đưa ra lí do để thỏa mãn quá mau chóng và đưa nó vào quá sớm, nó cần thiết dẫn đến chỉ trích qua lại. Chỉ trích qua lại, tuy nhiên, là thành phần trong cuộc sống thế giới của chủ thuyết số nhiều.

Trong bối cảnh này, chúng ta phải nhận thức chọn lựa tôn giáo của chúng ta không phải được định đoạt bởi “một điều gì” (some thing) mà bởi một con người (a person) hoặc một cá tính như Đức Giêsu xứ Nazareth. Một con người có thể tuyên bố tính số ít (singularity) và tính độc đáo (uniqueness). Và thế nhưng, chúng ta không nên bỏ qua sự kiện rằng cũng trong vụ việc này, chọn lựa thuận lợi về Đức Giêsu Đấng Kitô, thoạt nhìn đến, hàm ý tính song song (parallelisms) và cân bằng (leveling).

CÁC NGUỒN GỐC TÔN GIÁO: CÁC VỊ SÁNG LẬP (Religious Origins: Founders)

Ngay khi Kitô giáo được đặt song hành với các tôn giáo khác, Đức Giêsu lịch sử xứ Nazareth sẽ được xếp hàng cùng với các vị sáng lập các tôn giáo khác.

Trong số các tôn giáo, dĩ nhiên, có các tôn giáo không có vị sáng lập (các tôn giáo bộ tộc và tự nhiên, không biết đến, các tôn giáo được gọi là “sơ khai”). Điều này áp dụng tại Ấn độ cho phần lớn các tôn giáo Ấn độ, tại Nhật bản với Thần đạo và tại Korea với tôn giáo nguyên thủy, cách riêng với các tôn giáo cổ điển ở châu Phi, Biển Nam và các đất nước khác với các tôn giáo của dân bản địa. Các tôn giáo này không phải là quan tâm chính của chúng ta bởi vì từ nguyên thủy, chúng không dạy một con đường cho tất cả mọi con người vượt quá biên giới quốc gia và bộ tộc của chúng. Điều này vẫn duy trì giá trị nếu trong một giai đoạn đang bành trướng các liên hệ qua lại xã hội và văn hóa, một số trong chúng cố gắng vượt qua các tự giới hạn ban đầu của chúng. Nó có thể được minh họa với ví dụ về các phong trào Ấn giáo cố gắng tự loại bỏ khỏi hệ thống giai cấp Ấn độ và vượt thắng và đưa vào các thành viên thậm chí từ nước ngoài[6]. Các tôn giáo tự nhiên chẳng cách nào đã chết, như nó được chứng minh cách ấn tượng bởi cuộc trưng bày “Bàn thờ—Nghệ thuật quì gối” (Altars—the Art to kneel down) tại Düsseldorf/Đức vào năm 2001/2002. Cuộc trưng bày không chỉ trưng bày 67 bàn thờ, chủ yếu được chọn từ các bối cảnh văn hóa với các lòng sùng kính phổ thông, mà nó còn đặt chúng vào hành động bởi các tư tế bộ tộc (shamans) và tư tế (priests) của các cộng đoàn tôn giáo khác nhau cử hành các nghi thức tôn giáo trong đó người xem có thể dự phần vào cách này hoặc cách khác. Thực sự, có thể đầy ý nghĩa để tìm hiểu làm sao các thể loại như vậy về tôn giáo đáp ứng các nhu cầu con người bình thường đang đối mặt trong thời đại chúng ta, cách riêng sự nghèo khó và bị áp bức.

Ở đây, chúng ta tập chú vào các tôn giáo hoàn toàn biết được sự quan trọng của chúng cho toàn thể loài người. Đây là các tôn giáo chính với một nguồn gốc lịch sử nào đó liên hệ với vị một sáng lập. Gần gủi với Kitô giáo, có Do thái giáo và Hồi giáo với Moses và Muhammad, tại châu Á Phật giáo với Phật Thích ca mâu ni (Buddha Shakyamuni), Khổng giáo và Đạo giáo với Không tử, Thầy Khổng (Master K’ung), và người đồng thời của ông, “ông thầy già,” Lão tử. Tất cả các người này có các môn đồ của họ thế nào để theo dòng thời gian đã phát triển cách thực hành, các giáo điều và tổ chức ràng buộc tôn giáo. Với thời đại chúng ta, chính thực rất quan trọng để ghi nhận vai trò nào vị sáng lập tiếp tục giữ bên trong cộng đoàn.

Có các thể loại lãnh đạo khác nhau. Thường xuyên, các vị sáng lập là người đưa tin của lời thần thiêng—các tiên tri—hoặc thầy dạy mà giáo huấn bao gồm trong một hòa nhập các lời được cảm hứng thần thiêng và các câu nói uyên bác có được do kinh nghiệm thực tiễn của sự uyên bác xuyên suốt các thời đại. Vị khác là các người chữa lành theo nghĩa thể chất, tâm lí hoặc thần kinh. Thông thường họ là các người trung gian hoặc đồng cốt trong đó Thiên Chúa hoặc Đấng Thần thiêng lấy làm chỗ cư ngụ giữa con người. Thực hấp dẫn để ghi nhận rằng các khuôn mặt tôn giáo như thế lại xuất hiện trong thời đại chúng ta nơi con người tìm cách đi vào sự cứu độ và sự giúp đỡ bên ngoài các khoa học và kĩ thuật hiện đại và tìm thấy nó trong các chuyển động tôn giáo mới, và rằng hơn thế nữa như là nhiều phương cách hiện đại của cuộc sống gây ra các âu lo và sợ hãi mới.

ĐỨC KITÔ ĐƯỢC XẾP HẠNG (Christ Classified)

Ở đây chúng ta phải chú ý đến việc xếp hạng Đức Kitô. Vào khởi đầu cuộc sống công khai của Người, Người tự đặt mình cùng hàng với người khác ước muốn được Gioan người Thanh tẩy thanh tẩy (xem Mt. 3, 13 tiếp). Người là con người giữa các con người, thậm chí cho dẫu hiện thân không tội lỗi (xem Ga. 8, 46; 2 Cr. 5, 21; Dt. 4, 15; 7, 26 tiếp), Người xếp hạng với người tội lỗi. Những gì Người tích cực chấp nhận, do đồng loại làm cho Người: Họ treo Người lên thập giá, và Người chết cái chết của một tội phạm. Phương cách Người tự chọn lựa vị trí của Người bên trong dòng giống con người hợp pháp hóa các nỗ lực khác nhau đã được đảm nhận nhằm định đoạt vị thế của Đức Giêsu so sánh với các người khác. Điều này phải được thú nhận cho dẫu đồng thời có sự nguy hiểm rằng tính độc đáo của Đức Giêsu bị tương đối theo quan điểm thần tính của Người. Chẳng nghi ngờ gì, chúng ta phải thừa nhận bằng mọi cách rằng Đức Giêsu là con người đích thực giữa các con người. Chỉ nếu chúng ta làm như thế, sự sửa đổi hình ảnh của chúng ta về Thiên Chúa trở thành có thể được.

Vào mọi thời đại, bên trong và bên ngoài các tôn giáo, người ta đã cố gắng nhìn Đức Giêsu trong phương cách được xếp loại[7]. Chúng ta đã nói đến Karl Jaspers. Với ông cùng với Socrates, Phật và Khổng tử, Đức Giêsu được kể đến trong các người uy quyền vĩ đại của lịch sử con người. Các nghiên cứu thể loại thông dụng nhất về các vị sáng lập tôn giáo cũng đã được chuyển dịch đến Đức Giêsu. Rõ ràng, Người có thể được gọi là tiên tri, thầy dạy, người chữa lành, và theo khía cạnh Phật giáo cũng là một người giá ngộ (enlightened). Ấn giáo đặt Người ngang hàng với thần chúa Ấn độ Vishnu trong số các avatāra, các người trung gian của sự cứu độ. Rằng tước hiệu “Kitô” hàm ý tuyên xưng tính Messiah hiển nhiên đã lạc lối thậm chí trong các đụng chạm Do-thái-Kitô-giáo. Người Do thái giáo không còn nhận thấy trong Đức Kitô tính messiah được trông đợi, và Kitô hữu ít khi bết đến sự kiện rằng Kitô là một từ Hilạp nghĩa là messiah = người được xức dầu. Điều đó có nghĩa: Đức Kitô phần lớn được xếp loại như là tiên tri, thầy dạy và người chữa lành.

Như trong các tôn giáo tiên tri khác ví như Hồi giáo, Đức Giêsu là một tiên tri. Cho dẫu trong giáo hội ban đầu, chức năng tiên tri của Đức Giêsu đã mất đi sự chú ý nguyên thủy, tất cả các Phúc âm rõ ràng nói về Người theo phương cách này. Người đương thời tuyên xưng, “Đây đích thực là vị Tiên tri, Đấng phải đến trên thế giới” (Ga. 6, 14; xem 1, 45; 4, 19). Và các môn đồ trên đường đến Emmaus xác nhận rằng Người là “một tiên tri, quyền năng trong hành động và lời lẽ trước Thiên Chúa và toàn thể con người” (Lc. 24, 19). Về sau, các tước hiệu khác như Con trai của Con người, Con trai của Thiên Chúa, và cách riêng Đức Kitô trở nên nổi bật hơn[8]. Tuy nhiên, trong sách Côran, Đức Giêsu, một lần nữa, là thành phần của lịch sử tiên tri, là một thành viên trong chuỗi các tiên tri dẫn đến dấu ấn (the seal) của các tiên tri, Muhammad.

Một phương cách đặc biệt về xếp loại chúng ta nhận được từ Ấn độ, nơi—như đã nói đến trước đây—Đức Giêsu được xem như là một “nhập thể” (tiếng Phạn: avatāra) của Vishnu, một thần chúa ban cho sự cứu độ. Tuy nhiên, hiển nhiên Đức Giêsu chẳng phải độc đáo cũng không phải là “nhập thể” (incarnation) duy nhất của Thiên Chúa, mà chỉ là một “nhập thể” trong số các nhập thể khác. Chúng ta có lí để hỏi liệu avatāra mà Kitô hữu cũng sử dụng cho sự Nhập thể của Đức Kitô, có phải là một chuyên ngữ khéo chọn lựa hay không. Vì rõ ràng cho đến nay Kitô hữu trong tình trạng thiểu số đã không thành công trong việc giải thích tính độc đáo của Đức Giêsu đầy đủ và rõ ràng cho các người đồng hương của họ bằng cách sử dụng khái niệm Ấn độ.

Và thế nhưng, bất cứ nơi đâu tôn giáo tập chú vào chiêm niệm về chữa lành và cứu độ, Đức Giêsu là một người chữa lành và cứu độ ấn tượng, Đấng đã không chỉ biết cách chữa lành con người các bệnh hoạn thể chất và tâm thần của họ, mà còn biết cách đổi mới họ hoàn toàn bằng cách mở con mắt họ ra cho thực tại và sự thứ tha tội lỗi. Tuy nhiên, điều này mà thôi klhông giải quyết được rằng các hành động chữa trị của Đức Kitô cũng là “các bí tích” (sacraments), có nghĩa là, các dấu chỉ chỉ đến một hành động thậm chí còn bao quát hơn về việc chữa lành làm cho vị Thiên Chúa, con người và thế giới nối kết sự cứu độ vào lúc kết thúc ngày tháng này. Như đã nói trước đây, việc chữa lành và cứu độ cũng nói đến con người trong vấp phạm và tội lỗi của mình qua đó con người tự rời bỏ mình khỏi Thiên Chúa. Như thế sự thứ tha lỗi phạm và hòa giải cũng là các hành động của việc chữa lành. Trong một quan điểm bao quát, Eugen Biser thích gọi Kitô giáo một “tôn giáo trị liệu” cách nền tảng[9]. Và thế nhưng, câu hỏi là liệu trong nhiều nỗ lực của các nỗ lực này, tính độc đáo của Đức Kitô không bị quan niệm theo một phương cách mà đến cuối cùng nó bị chối bỏ hay không. Sự thực, cũng có các tác giả lập luận phương cách này và, nhấn mạnh, do đó, đến sự kiện rằng rốt cùng Đức Kitô có thể, ít nữa không nên bị xếp loại chút nào cả.

“KHÔNG CÓ QUAI XÁCH TRÊN CÂY THẬP GIÁ” ([KOSUKE KOYAMA]) – (“No Handle on the Cross” [Kosuke Koyama])

Nhà thần học Nhật bản Kosuke Koyama tóm tắt hình ảnh của ông về Đức Kitô trong câu, “Không có quai xách trên cây thập giá” (No Handle on the Cross) và dùng nó thành nhan đề cho một cuốn sách[10]. Koyama hướng sự chú ý của chúng ta đến biến cố trung tâm trong cuộc đời của Đức Giêsu, cái chết của Người trên thập giá, mà trong Kitô giáo được chấp nhận như là một biến cố cứu độ cho toàn thể loài người, độc đáo trong sự dâng hiến và tác động của nó. Tính không thể được của việc xếp loại Đức Giêsu dựa trên một nhận thức rốt cùng được thay đổi từ căn bản về Thiên Chúa. Koyama diễn đạt tính không thể so sánh được của Đức Giêsu theo phương cách đầy tư duy như sau:

Hình ảnh của Đức Giêsu dưới sức nặng của cây thập giá kềnh càng và không quai xách [handleless] là một hình ảnh truyền giáo học (missiological) đầy ý nghĩa mà dưới ánh sáng của nó ý nghĩa thần học của tình hình châu Á hàng ngày phải được tìm kiếm. Một hình ảnh như vậy về Đức Giêsu đang vác cây thập giá theo cùng phương cách một người doanh nghiệp Mĩ tại Hong Kong xách cặp là vô ích theo thần học và tởm lợm theo truyền giáo học. Chúng ta có thể cạo râu Đức Giêsu. Chúng ta có thể mang cà vạt cho Đức Giêsu. Chúng ta có thể đặt một cặp kính trên đôi mắt Người và một máy thu thanh bán dẫn Sony vào đôi bàn tay Người (?!). Nhưng nếu chúng ta đặt một quai xách lên thập giá của Người thế nào để Người có thể xách nó như một người doanh nghiệp xách cặp, thì đức tin Kitô giáo đã mất đi nền tảng. Thần học lúc đó bị tê liệt. Đạo đức Kitô giáo đã mất đi hứng khởi nội tại của nó. Một Đức Giêsu như vậy xách thập giá của Người như người ta xách cặp—rốt cùng điều này chỉ đến vị Thiên Chúa xách thế giới đi quanh như người ta xách cặp—đem lại một cú suy tim chết chóc cho đức tin Kitô giáo. Bất luận nó có thể thận trọng, hấp dẫn, hiệu lực và đầy tài nguyên đến chừng nào, nền thần học về một Đức Giêsu như vậy không thể là đích thực cho thông điệp cứu độ và cách thức cứu độ được đưa ra trong truyền thống Kinh thánh. Trong Kinh thánh, cây thập giá không có “quai xách.” Xin để tôi nhấn mạnh rằng với tôi, hình ảnh Đức Giêsu đang vác trên đôi vai Người sức nặng không chịu đựng nổi của cây thập giá kềnh càng—Người đã không biết phải vác cách nào, thế nhưng Người đã vác nó “không có quai xách”—là hình ảnh đầu tiên cho nhận thức và giải thích chân lí Kitô giáo khẩn cấp cần đến tại châu Á ngày nay.

Trong khi tìm kiếm một căn bản Kinh thánh, chúng ta phải quay đến với Thánh Phaolô. Trong thư thứ nhất của ông gửi người Côrintô, ông nhắc nhở họ rằng ông đã được sai đi để rao giảng Phúc âm theo một phương cách “rằng thập giá của Đức Kitô không thể làm trống rỗng đi ý nghĩa của nó” (1, 17). Vì cây thập giá chẳng có “quai xách,” chẳng có dấu chỉ như người Do thái đòi hỏi, và chẳng có sự uyên bác như người Hi lạp yêu cầu (xem 1, 22). Phaolô tuyên xưng “thông điệp của thập giá,” “là chuyện rồ dại cho những ai đang hủy diệt, nhưng cho chúng ta các người đang được cứu độ, nó là quyền lực của Thiên Chúa” (1, 18).

Điều này giả định trước Sema—“Israel, nghe đây!” (Hear, O Israel!) (Đnl. 6, 4—Phụ lục 2, số 4) trở nên phương tiện đến với thập giá. Bất cứ ai có tai để nghe và do đó sẵn sàng nhận biết thông điệp, đang tự cho phép mình nghe tiếng của Thiên Chúa trong sự độc đáo của nó cũng ở trong các tôn giáo khác nữa. Vì tiếng nói của sự rồ dại của thập giá trở nên có thể nhận biết được cho người đó bất cứ nơi đâu tiếng nói của người đang đau khổ là tiếng vang vọng của tiếng kêu hấp hối của Đức Kitô trong giờ cuối cùng của Người. Đây chính xác cũng là thông điệp của các nhà thần học như Jon Sobrino và Aloysius Pieris, mà tiếng kêu la của họ cho người nghèo khó không thể bị bỏ qua[11].

Cho dẫu ông rốt cùng không bao giờ từ khước nhân dạng Do thái của ông, học giả Do thái về khoa học tôn giáo và Tân Ước Pinchas Lapide (1922-1997) phải được nhận như là người trung gian giữa Do thái giáo và Kitô giáo[12]. Ông không ngần ngại nhìn thấy trong Rabbi xứ Nazareth một con người từ quan điểm Do thái không thể bị xếp hạng. Với ông, sự hiện hữu của Đức Giêsu như là một người Do thái không tự làm cạn kiệt bằng việc gọi Người là một nhà rao giảng lưu động hoặc một thầy dạy luật hoặc một nhà thơ dụ ngôn. Đức Giêsu không thể được xếp chỗ đồng hạng với các người của đức tin mà các chủng loại chúng ta biết đến. Một khác biệt giữa Do thái giáo và Kitô giáo, tuy nhiên, được Lapide ghi nhận. Theo ông, Kitô giáo phải được định nghĩa như là một tôn-giáo-ai (who-religion), trong khi Do thái giáo đúng hơn phải là một tôn-giáo-cái-gì (what-religion). Kitô hữu xem ra luôn luôn hỏi, “Ai?”: Ai là Thiên Chúa? Ai là Con trai của Người? Ai đích thực là một Kitô hữu? Thay vào đó người Do thái có đức tin đúng ra sẽ hỏi, “Cái gì?”: Thiên Chúa đã làm cái gì trên quả đất? Ý nguyện của Người là cái gì? Chương trình của Người cho chúng ta là cái gì? Thực sự, Lapide theo một phương cách đặt để chúng ta vào lời mời gọi chiêm ngắm Kitô giáo không phải đề cập nhiều đến “một điều gì” mà khởi đầu với một con người, với Đức Giêsu Kitô. Theo ý nghĩa này, chúng ta phải đúng hơn cũng tránh gọi Kitô giáo là một “tôn giáo về một cuốn sách” (a religion of a book) như thường xuyên được làm trong khi so sánh Kitô giáo với Do thái giáo và Hồi giáo.

Dù sao, ở đây chúng ta quay lại điểm khởi đầu của thảo luận của chúng ta. Bất cứ ai nói đến Kitô giáo, trước hết phải nói đến: Đức Giêsu Kitô. Không phải những gì ngày nay được trình bày như là “thuộc về Kitô giáo” (Christian) hoặc “Kitô giáo” (Christianity), thậm chí trong sự phong phú của việc xuất hiện, dẫn chúng ta cách cần thiết về nguồn, mà chỉ quyết định và ý nguyện tiếp xúc với nguồn thực sự trong toàn bộ lịch sử, nghĩa là để khám phá lại con người của Đức Giêsu Kitô trong tất cả các cấu trúc giáo hội và bí tích, trong tất cả các hệ thống giáo điều, trong tính giáo điều và đạo đức, mà cũng còn trong sự đa dạng của phụng vụ và nghi thức của Giáo hội. Có nhiều lớp vỏ cứng đã bị đập vỡ thế nào để bộ mặt thật của Đức Kitô lại trở nên có thể nhìn thấy được. Đã có quá ít chú ý đến một khoảng đời nhỏ của cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II. Bất cứ khi nào đến thăm viếng một đất nước, ông háo hức tách biệt ra bộ mặt của Đức Kitô trong các Kitô hữu sống ở đó, và ông đưa họ thành ví dụ của đời sống Kitô giáo đích thực bằng cách phong chân phước hoặc phong thánh họ. Theo một phương cách, ông đã giúp giải thoát Giáo hội khỏi sự tê cứng bằng cách giáo huấn người tin khám phá lại bộ mặt bị che dấu của Đức Kitô hằng sống trong các bộ mặt của đàn ông đàn bà thuộc tất cả các màu da và các giai đoạn thời gian đã hoàn toàn tự phó thác cho Đức Kitô và đi theo Người trong dòng đời của họ. Lời đáp ứng của Đức Giêsu, “bất cứ ai đã nhìn thấy Tôi, đã nhìn thấy Chúa Cha” (Ga. 14, 9) vẫn còn được nghe thấy bất cứ nơi đâu chúng ta có thể khám phá ra bộ mặt của Đức Kitô trong cuộc sống của một trong các môn đồ của Người. Nếu Kitô hữu nhậy cảm hơn, họ có thể nhận ra rằng Đức Giêsu trở nên nhìn thấy được và đến gần được thậm chí ngày nay giữa chúng ta, như trong Giáo hoàng Gioan XXIII hoặc Edith Stein hoặc Mẹ Têrêxa, trong Martin Luther King Jr., trong Oscar Romero, Ignacio Ellacuría và các người khác. Và không phải luôn luôn là những người vĩ đại và danh tiếng đại diện cho Người, thường bộ mặt Người có thể được tách biệt trong các người bé nhỏ, trong những ai bị bỏ qua, và những ai, hơn nữa, vác thập giá của Chúa qua thời đại chúng ta. Đây là—và chúng ta phải nhìn thấy—người nghèo khó, người cơ cực, người bị tước đoạt, người tị nạn và tàn tật trên khắp thế giới.

TRÊN CON ĐƯỜNG ĐI THEO ĐỨC KITÔ (On the Way to Following Christ)

Nhận thức đúng cách, Kitô giáo là một tôn giáo của con đường.—Jon Sobrino nói, “một hành trình qua lịch sử[13].” Điều đó có nghĩa với Kitô hữu, họ phải biết rằng họ đang trên con đường với Đức Kitô. Bất cứ ai biết là một Kitô hữu nghĩa là đang trên đường đi, sẽ dễ dàng nhận biết lịch sử Kitô giáo là lịch sử về một con đường phải đi. Người đó cũng sẽ chấp nhận việc người đó đang là một Kitô hữu đích thực, một môn đồ của Đức Kitô, sống từ một cuộc gặp gỡ mới chưa từng có với Đức Kitô Giêsu hằng sống, và cuộc gặp gỡ này có thể xẩy ra trong việc gặp gỡ những người đang đau khổ dưới thập giá của họ. Do đó, với một Kitô hữu, Đức Giêsu Kitô không thể là một đối thể của việc tìm kiếm, Người phần lớn hơn là một chủ thể ngày nay cũng tự mạc khải và thực sự gặp gỡ chúng ta, và tạo ra sự liên chủ thể và truyền thông đích thực giữa chính Người và chúng ta và ở giữa chúng ta nữa. Do đó, chúng ta phải lưu tâm rằng chúng ta liên tục tiếp xúc với Người trong việc khám phá ra Người trong lịch sử của ngày nay.

Về điều này, chúng ta phải nhấn mạnh bởi vì qua một thời gian quá dài, Kitô giáo đã bị kinh nghiệm như là một hệ thống các giáo điều và một loạt các toa thuốc luân lí và nghi lễ theo các chu kì của năm và các ngày lễ và biến cố quen thuộc. Giáo điều và luân lí ở một phía, các ngày lễ trong năm, Giáng sinh, Phục sinh, Hiện xuống, các ngày lễ khu vực và địa phương, nhưng cũng còn các nghi thức kết nạp trong các gia đình, thanh tẩy, chịu lễ lần đầu và thêm sức, về sau đám cưới và các lễ mừng, các nghi thức cuối cùng cho người bệnh và tang lễ về một phía. Chúng ta khó có thể xác nhận rằng thông thường người ta tìm thấy con đường của họ từ các biến cố xã hội đến một gặp gỡ cá nhân với Đức Kitô. Hơn thế nữa, chúng ta phải đòi hỏi rằng Kitô giáo phát triển lại bản chất của nó về một tôn giáo cống hiến một con đường.

Thực sự, nó thuộc về các khám phá của thời đại chúng ta rằng nhiều tôn giáo khác nữa đã trở thành một lời mời gọi đến một con đường để đi. Từ đó, tôn giáo cạnh tranh với nhau bằng cách cống hiến và trở thành một con đường để đi. Thế thì chúng ta có thể nói gì về một tôn giáo phải khám phá lại khía cạnh của nó về việc trở nên một con đường để đi? Nhưng chúng ta cũng còn phải hỏi: chúng ta làm sao có thể ăn ý được với các nhà lãnh đạo tôn giáo không còn bị bận rộn với các suy tư thần học nữa mà chỉ với các chỉ thị cho việc đua tranh? Vì các người tôn giáo là các người chạy đua trong đấu trường của lịch sử thế giới.

Ở đây chúng ta có thể hỏi: Có phải tất cả các người chạy đua trong đấu trường cùng một mục đích hay không khi họ chạy? Họ quan tâm đến sự kết thúc cuộc sống cá nhân của họ, nhưng cũng đến kết quả của lịch sử con người, rốt cùng đến mục tiêu của thế giới trong đó họ đang sống. Nhưng ai định đoạt mục tiêu cá thể và mục tiêu mọi người ôm ấp? Có phải chính chúng ta tự định đoạt mục tiêu, hoặc nó được định đoạt trước và đưa ra cho chúng ta? Chúng ta phải thêm vào: Nếu mục tiêu cá thể của chúng ta bị một mục tiêu phổ quát hơn vây bọc, mục tiêu cá nhân của chúng ta liên hệ đến các người khác, đến môi trường của chúng ta, đến gia đình, quốc gia và xã hội theo ý nghĩa rộng rãi nhất và không thể được thực hiện mà không có chúng. Chúng ta thậm chí có thể đau khổ dưới sự kiện rằng chúng ta quá quan tâm đến chính chúng ta và mù quáng với những ai đang chạy với chúng ta vai sát vai. Chúng ta có nhận biết những người cạnh chúng ta trên con đường chịu đau khổ dưới gánh nặng của thập giá mà họ đang bị ép buộc phải vác, và chúng ta có nghe tiếng kêu khóc xin giúp đỡ không?

Đến điểm này, mục tiêu và con đường, mục đích và lối đi đến với nhau, và câu hỏi là: Có phải tất cả các người chạy đua đi cùng một con đường không? Thoạt nhìn qua, điều này xem ra không phải là vụ việc. Nhưng khi chúng ta chạy trên các lối chạy khác nhau, liệu chúng ta có chắc chắn rằng chúng dẫn đến một mục tiêu, và thậm chí hơn nữa: đến cùng một mục tiêu không? Các câu châm ngôn như “Tất cả các con đường đều dẫn đến Rôma” hoặc “Tất cả các lối đi đều dẫn đến đỉnh núi Phú sĩ” (ngọn núi thánh của Nhật bản) xem ra tuyên bố chính xác điều này. Và thế nhưng, chúng ta phải thú nhận rằng ngày nay người ta cũng đi chệch hướng, lạc khỏi lối đi đúng, và bước trên các con đường sai lầm. Do đó, có lí khi chúng ta tự tín nhiệm vào một người hướng dẫn và bước đi đàng sau người đó bởi vì người đó biết đường đi. Ngày nay, nhiều Kitô hữu bắt đầu nhớ lại lời của Đức Giêsu trong Phúc âm của Gioan 14, 6: “Tôi là con đường.”

Bởi vì trong thảo luận tiếp của chúng ta, chúng ta đang lắng nghe lời lẽ này và đồng thời tìm ra các lời lẽ hướng dẫn khác, chúng ta phải nhìn đến cả hai phía, đến các tôn giáo khác và đến con đường mà Đức Giêsu Kitô đã giao phó cho chúng ta. Chỉ một ai đó đang ở trên con đường có thể tưởng tượng chính mình sẽ thay đổi như thế nào bằng cách thường xuyên xem xét cả hai phía. Vì bao lâu chúng ta giữ cho các giác quan của chúng ta cởi mở và không tách rời khỏi bất cứ ai khác, chúng ta gặp gỡ trên con đường những người khác và những người xa lạ. Thực sự người khác và các người khác trở nên ngày càng là mối quan tâm của chúng ta ngày nay. Nơi đâu chúng ta thực sự trở nên nhận biết về họ, nơi đó ngày càng trở nên khó khăn để đưa người khác trong tính tha nhân của họ đơn giản vào trong chủng loại của chúng ta và đặt ngang hàng những gì không phù hợp với chính thế giới của chúng ta theo trí tưởng tượng. Đã quá lâu dài lịch sử châu Âu và phương Tây bị ấn tượng bởi ý niệm rằng mọi sự và mọi người không được biết đến đều là hạ cấp, do đó chẳng có gì đáng quan tâm và là vô dụng. Thậm chí ngày nay chúng ta nhận thấy trong nhiều quốc gia rằng trong khi họ đang giải quyết vấn đề di dân, câu hỏi về tính hữu dụng của người nước ngoài cho nền kinh tế nội địa chấp nhận một tiêu chuẩn cao trong việc cứu xét. Nhưng dần dà chút một, các người khác và các người xa lạ trở nên cho chúng ta các người khác và các người xa lạ với khuôn mặt đích đáng của riêng họ. Họ sở hữu các cá thể của họ, tư cách xứng hợp của chính họ và các quyền con người của chính họ. Từ đó, chúng ta không còn có thể chỉ nói về họ, mà khi chúng ta cùng chung sống với họ, chúng ta phải nói với họ, giải quyết họ và chăm sóc họ. Từ việc nghiên cứu người không biết đến và không quen thuộc, một cuộc đối thoại và một cuộc sống chia sẻ với họ bừng lên.

Ở đây, tôi muồn kêu gọi sự chú ý đến một điểm trọng tâm khác đi theo khía cạnh tôn giáo của cuộc đối thoại đòi buộc. Nếu Đức Giêsu Nazareth phải chỉ cho chúng ta con đường, và đồng thời nhấn mạnh rằng chính Người là con đường, chúng ta sẽ lạc mất con đường của chúng ta bao lâu chúng ta lơ là mối liên hệ với Thiên Chúa của Người. Đấng gọi Thiên Chúa là “Cha” mình, biểu hiện chính mình trong Kinh thánh rõ ràng hơn như là “người Con trai,” và như thế nhận được một uy quyền không thể so sánh được. Bất cứ ai cố gắng tương đối hóa tuyên bố bằng cách giảm thiểu Đức Kitô thành một nhà lãnh đạo tôn giáo trong các nhà lãnh đạo khác gặp khó khăn để chứng minh rằng một lời tuyên bố thay thế hiện hữu có thể được đặt chống lại thông điệp cụ thể của Đức Kitô. Và cứu xét tất cả các nét đặc biệt tiêu biểu cho các vị sáng lập tôn giáo khác, tôi tìm thấy khó mà khám phá ra bất cứ ai trong lịch sử loài người có thể cạnh tranh tuyên bố của Đức Giêsu Kitô là “người Con trai”[14]
 

——————————————————–

Ghi Chú

[1] Về tính là Chúa của Đức Kitô, xem chi tiết trong J. Sobrino, Christ the Liberator. A View from the Victims. Orbis: Maryknoll, N.Y. 2001, tr. 152-169. (Ghi chú trong sách là của tác giả trừ phi ghi [nd] nếu của người dịch)
[2] Do Orbis: Maryknoll, N.Y. 1997 xuất bản.
[3] Weltanschauung: Tiếng Đức, do Welt=thế giới và Anschauung=quan điểm, nghĩa là khái niệm về thế giới nhìn từ một quan điểm nhất định; thế giới quan (nd)
[4] Xem K. Jaspers, Philosophical Faith and Revelation. Collins: London 1967, tr. 20 tiếp.
[5] Herder: Freiburgh; bản in mới: N. Borengӓsser: Bonn 2002.
[6] Xem, R. Hummel, Indische Mission und neue Frömmigkeit im Westen. Kohlhammer: Stuttgart 1980.
[7] Xem chi tiết hơn H. Waldenfels, Kontextuelle Fundamentaltheologie. Schnöningh: Paderborn, in lần thứ tư, tr. 223-247.
[8] Trong việc thảo luận các tước hiệu của Đức Giêsu, chúng ta phải phân biệt giữa các tước hiệu mô tả các chức năng được Người thực thi trong cuộc đời Người, và các chức năng chứng tỏ sự khởi đầu của suy tư và diễn dịch thần học. Biện giải phê bình thực sự hiện đại cho chúng ta biết đến nhiều hơn về sự phân biệt này.
[9] Xem E. Biser, Die Entdecking des Christentums und das neue Jahrtausend. Herder: Freiburg 2000, một trong nhiều sách khác.
[10] Xem K. Koyama, No Handle on the Cross. An Asian Meditation on the Crucified Mind. Orbis: Maryknoll. N.Y. 1977; trích dẫn tr. 6 tiếp.
[11] Xem các lời van nài mạnh mẽ của họ trong A. Pieris, Interreligious Dialogue and Theology of Religions, trong sách đã dẫn, Fire and Water. Orbis: maryknoll, N.Y. 1996, tr. 154-161 và J. Sobrino (cước chú 1).
[12] Xem H. Waldenfels (cước chú 7), tr. 233 tiếp
[13] Xem J. Sobrino (cước chú 1), tr. 323-330; 337-340; cũng xem H. Waldenfels (cước chú 7), tr. 377-382.
[14] Ở đây Sobrino sẽ kêu gọi sự chú ý đến một điểm thứ hai mà từ lâu Kitô giáo đã lơ là: nội dung của thông điệp của Đức Kitô, tuyên bố của Người về vương quốc của Thiên Chúa và các hàm ý theo sau nó cho thời đại hiện tại. Quả thực vương quốc tìm thấy cách diễn đạt cá nhân của nó trong con người của Đức Giêsu Kitô, nhưng nó cần được nhận ra, hoặc như Sobrino nói, nó phải được “sống” luôn luôn đổi mới trong dòng lịch sử, cho đến mục đích tận cùng của thế giới và lịch sử đạt đến được.

Thần Học Các Tôn Giáo