Tôi hân hạnh được thay mặt Trung Tâm học vấn Đaminh chào đón quý vị đến đây tham dự lễ thánh Tôma Aquinô, bổn mạng của Trung Tâm
Kính thưa Quý Bề trên các Dòng, Quý Giáo Sư,
Kính thưa quý quan khách và thân hữu,
Các bạn sinh viên thân mến!
Tôi hân hạnh được thay mặt Trung Tâm học vấn Đaminh chào đón quý vị đến đây tham dự lễ thánh Tôma Aquinô, bổn mạng của Trung Tâm, và lễ trao bằng cử nhân thần học cho 52 sinh viên tốt nghiệp vào tháng 6 năm ngoái. Đặc biệt tôi xin gửi lời chào các sinh viên trở lại mái trường cũ, nơi anh em đã theo đuổi hành trình kéo dài 6 năm. Một số anh em hiện nay đang phục vụ ở phương trời xa, thậm chí ở những đại lục khác, nên không thể họp mặt hôm nay. Chúng tôi cùng chia vui với các anh, cũng như với hội dòng của các anh và thân quyến của các anh.
Cũng như mọi năm, lễ bổn mạng của trung tâm trùng với Tết âm lịch. Đây là dịp chúng ta cầu chúc cho nhau những điều tốt đẹp nhất, đặc biệt là Niềm vui, được đức thánh cha Phanxicô vừa nhắc đến trong tông huấn ban hành cách đây 2 tháng: niềm vui nằm trong Tin mừng (Evangelii gaudium), khiến cho những ai có trách nhiệm loan báo Tin mừng buộc phải vui, nếu không muốn mâu thuẫn với sứ điệp mà mình rao giảng.
Khi sắp bước sang năm mới, cơn cám dỗ thông thường của các thủ trưởng là liệt kê các thành tích đã lập được trong năm qua. Tôi muốn tránh cơn cám dỗ ấy, bằng cách ôn lại không phải là chuyện năm ngoái nhưng là chuyện của 50 năm về trước. Cách đây gần 2 tuần, đức thánh cha Phanxicô loan báo là ngài sẽ sang đất thánh vào tháng 5 sắp tới để nhớ lại cuộc viếng thăm lịch sử của vị tiền nhiệm cách đây 50 năm (năm 1964), khi mà tại Giêrusalem, đức thánh cha Phaolô VI giám mục Rôma đã ôm hôn đức thượng phụ Athenagoras giám mục Constantinopolis. Một cử chỉ có tầm mức đại kết rất quan trọng, khi chúng ta nhớ lại rằng vào năm 1054 (nghĩa là 910 năm trước đó), hai toà Rôma và Constantinopolis đã ra vạ tuyệt thông lẫn nhau. Hầu như đại đa số các tín hữu Công giáo và Chính thống đều coi tình trạng chia rẽ là bình thường, bởi vì họ đã quen sống như vậy suốt 9 thế kỷ rồi. Tuy vậy, có những người không coi đó là chuyện bình thường, bởi vì trái ngược với ý định của Chúa Giêsu, và họ tìm hết cách để xóa bỏ sự chia rẽ ấy. Nói khác đi, sự kiện hai vị giáo chủ gặp nhau ở Giêrusalem nói lên thái độ can đảm muốn gạt bỏ những đố kỵ quá khứ để tiến tới sự hoà giải. Tuy nhiên, biến cố này đã được chuẩn bị bởi bao nhiêu người âm thầm làm việc lâu năm để tìm hiểu những nguyên nhân của sự chia rẽ để từ đó tìm cách vượt qua. Chúng ta nhớ đến các anh em Đaminh Christophe Dumont, Yves Congar, những nhà tiên phong của phong trào đại kết về phía Công giáo.
Kính thưa quý vị. Đây là một biến cố của Giáo hội đáng cho chúng ta quan tâm. Đó là lý do mà số 63 Thời sự thần học được phát hành hôm nay dành cho chủ đề “Thần học đại kết”. Nhưng có người sẽ nói: chuyện này cũng hay đấy, nhưng nó chẳng quan trọng bao nhiêu đến nước Việt Nam này, nơi mà cuộc đối thoại liên tôn còn quan trọng hơn là cuộc đối thoại đại kết. Vâng, đúng thế. Vì vậy bây giờ tôi xin phép mở ra một thứ đối thoại khác ở Việt Nam mà có lẽ ít người nghĩ đến. Năm 1054, Rôma và Constantinopolis chia rẽ nhau, và năm 1964, người ta cố gắng hàn gắn (cả hai năm đều tận cùng bằng con số 4). Năm nay ở Việt Nam, chúng ta sẽ kỷ niệm một biến cố quan trọng không kém; đó là năm 1954 (nghĩa là cách đây 60 năm tròn và cũng trùng vào năm Giáp ngọ), hiệp định Genève được ký kết phân chia nước Việt Nam thành 2 miền, với 2 chính thể khác nhau. Không rõ đã có mấy người nghĩ đến ý nghĩa của biến cố này, đừng kể việc các giáo xứ mừng 60 năm thành lập. Đúng vậy, hiệp định Geneve đã khiến 1 triệu người từ miền Bắc di cư vào miền Nam. Đâu là ý nghĩa của nó? Dưới cái nhìn của truyền giáo học, thật là một cơ may hiếm có. Nhờ biến cố đó mà Giáo hội miền Nam đã bành trướng mạnh mẽ. Nên biết rằng lãnh thổ của giáo tỉnh Saigon hiện nay gồm 10 giáo phận, nhưng cách đây 60 năm chỉ có 2 giáo phận rưỡi: Saigon, Vĩnh long, và phần còn lại thuộc địa phận Nam vang. Cũng nhờ biến cố 1954 mà Dòng Đaminh thiết lập cơ sở tại miền Nam, chứ không thì chỉ quanh quẩn ở các địa phận miền Đông Bắc bộ.
Xin mời quý vị đi thêm một bước nữa. Biến cố 1954 đã chia đôi nước Việt Nam thành 2 miền Bắc Nam. Ngày nay, lằn ranh giữa 2 miền không còn nữa bởi vì nước Việt Nam đã thống nhất rồi. Nhưng hai ý thức hệ, hai não trạng thì vẫn còn: hồi đó, người ta gọi là “Quốc gia” và “Cộng sản”, còn ngày nay sẽ mang những tên khác, và đôi bên cương quyết không đội trời chung. Những người đang ngồi trong hội trường này cũng đã biết rõ mình đứng về phía nào rồi. Đến đây, xin phép đặt câu hỏi: chúng ta chấp nhận tình trạng này mãi hay sao? Chúng ta có thể làm gì để nối kết hai bờ? Như đã nói trên đây, sau cuộc phân ly giữa Rôma và Constantinople năm 1054, đã có những nhà thần học lặng lẽ phân tích nguyên nhân của cuộc phân ly và tìm phương thế để vượt lên. Còn sau cuộc phân ly tại Việt Nam năm 1954, có mấy người dám nghĩ rằng có thể vượt qua tình trạng ấy?
Tôi trộm nghĩ thế này. Ngày 28 tháng 11 vừa qua, Quốc hội đã biểu quyết bản Hiến pháp. Như quý vị đã biết, điều 4 vẫn được duy trì, theo đó Đảng Cộng sản cương quyết giữ vai trò lãnh đạo dân tộc Việt Nam. Chắc chắn có nhiều người bực bội vì điều này. Nhưng tôi lại khám phá một bài học quý giá như thế này. Tin mừng Chúa Kitô đã được đưa sang Việt Nam từ bốn thế kỷ rồi, nhưng chúng ta cứ mang mặc cảm rằng đây là một tôn giáo từ bên Tây sang, nên khó tìm chỗ đứng trong dân tộc chúng ta. Người Cộng sản không hề có mặc cảm đó, mặc dù cũng được truyền bá từ bên Tây sang, và chỉ mới được một thế kỷ. Phải chăng chúng ta chưa xác tín cho đủ về giá trị của Tin mừng, cho nên chúng ta còn rụt rè khi giới thiệu vẻ đẹp của Chúa Kitô? Tôi cũng đã nói nhiều lần trong lớp học rằng tư tưởng của Marx không bắt nguồn từ Khổng giáo, Lão giáo hay Phật giáo, bởi vì ông là một người Do thái theo đạo Tin Lành. Chắc hẳn ông đã từng nghiền ngẫm những đoạn văn Kinh thánh nói đến một Thiên Chúa lắng nghe tiếng kêu của người nghèo, những kẻ bị áp bức. Và đó là nguồn hứng khởi của Marx. Điều trớ trêu là mới đây trong tông huấn “Niềm vui Tin mừng”, khi Đức thánh cha Phanxicô hô hào hãy lắng nghe tiếng kêu than của người nghèo, thì có người đã chụp mũ cho ngài là mác-xít. Hư thực thế nào không biết; nhưng ít ra điều ấy cho thấy có nhiều điểm gặp gỡ giữa Tin mừng dành cho người nghèo với thuyết mác xít, hơn là với các tôn giáo Đông phương, miễn là chúng ta đứng về phía người nghèo chứ không phải về phía những kẻ bóc lột, hưởng thụ (xem các số 187-191; 197-198). Nói thế có nghĩa là đã có người dọn đường cho chúng ta rồi, để chúng ta không còn bị ám ảnh bởi mặc cảm là truyền bá một đạo từ phương Tây qua! Bước kế tiếp là tìm cách trình bày vẻ đẹp của Tin mừng Chúa Kitô, Tin mừng có khả năng mang lại sự giải phóng toàn diện con người và sự thăng tiến xã hội. Xin mạn phép gợi lên điều ấy để chúng ta cùng suy nghĩ. Cũng trong tông huấn ấy (ở các số 222-237), đức thánh cha nhắc nhở chúng ta hãy nhớ 4 nguyên tắc khi dấn thân vào hoạt động xã hội:
1/ Thời gian lớn hơn là không gian (hãy nhắm đến những kế hoạch lâu dài, chứ đừng chỉ nghĩ đến cái lợi trước mắt).
2/ Hợp nhất thì lớn hơn là tranh chấp.
3/ Thực tại thì quan trọng hơn ý tưởng.
4/ Toàn bộ thì lớn hơn thành phần.
Trước khi kết thúc, tôi xin cám ơn những người đã giúp cho bộ máy của Trung Tâm Học vấn này được vận chuyển tốt: ban giám đốc, các giáo sư, các nhân viên thư viện, các nhân công, và dĩ nhiên là các bạn sinh viên. Nếu không có các sinh viên thì Trung Tâm phải đóng cửa, điều đang xảy ra tại nhiều nơi bên Âu châu.
Để làm quà Tết, năm ngoái, Trung Tâm đã cống hiến quý vị website mang địa chỉ catechesis.net, nơi có thể truy cập các tài liệu cần thiết cho việc nghiên cứu triết học và thần học. Năm nay, Trung Tâm xin giới thiệu một món quà khác, đó là bộ sách Tổng luận thần học (Summa Theologica) với bốn cột: latinh, pháp, anh, việt, do thư viện hoafn thành. Xin cám ơn cha quản thủ thư viện.
Xin phép quý vị cho tôi nói đôi lời bằng tiếng Anh với cha trưởng khoa thần học của đại học Santo Tomas.
Dear Father Rodel E. Aligan!
Thank you for coming again to preside over the conferment of diplomas to the students of this Center affiliated to your faculty. I would like to thank you for a special gift that you bring to us this year, namely the witness of faith that the Filipino people has shown to the world during the calamities of last year. The Philippines has less martyrs than other peoples in the Far East Asia (China, Korea, Japan, Viet Nam), but the Filippino population still has to endure other kinds of suffering. In those tragic situations, it is hard to keep faith in God’s fatherly love. Yet, you are able to be strong and joyful. We have to learn this example, especially because we have to study and preach the faith of the Church, the faith which is not limited to doctrines but imply also struggles in life. We need to support each other in faith through prayer, sharing with each other our joy and suffering, our hope and anguish.
Please, Father Dean, begin the ceremony of diploma conferment.
