✉ hylecuoicung@gmail.comTrang thông tin Huấn Giáo

800 Năm: Hành Trình Lịch Sử Của Dòng Anh Em Giảng Thuyết

Ngày 22-12-1216, Đức Thánh Cha Honorio III đã ban hai sắc lệnh thành lập Dòng, và gọi họ là chiến sĩ Đức tin và ánh sáng thế gian. Ngày 21-01-1217, Đức Honorio III chính thức tuyên bố danh xưng “DÒNG ANH EM THUYẾT GIÁO”

Lm. Phanxicô Đào Trung Hiệu, OP.

 

“Mừng kỷ niệm 800 năm hiện diện của Dòng Anh Em Giảng Thuyết,[1] không phải là nhớ đến một kỷ niệm cho bằng là hướng chúng ta, tất cả cùng nhau với niềm hăng hái, hướng về tương lai của đặc sủng chúng ta. Chúng ta tin rằng, tác vụ loan báo Tin Mừng vẫn luôn là điều cần thiết để Giáo Hội phục vụ thế giới. Đúng thế, “đẹp thay bước chân những sứ giả loan báo bình an, những người loan báo Tin Mừng!” (Rm 10,15). Chúng ta tin rằng Thiên Chúa có một kế hoạch diệu kỳ cho cộng đoàn nhân loại và Người đã chọn chúng ta, dù chúng ta yếu đuối, để trở thành những chứng nhân đầy vui tươi về kế hoạch ấy”.[2]

Khái quát, chúng ta có thể phân chia 800 năm lịch sử Dòng Đaminh thành bốn giai đoạn:

– Thời phát triển trong thế kỷ XIII

– Thời cải tổ: thế kỷ XIV – XV

– Thời Phục hưng: thế kỷ XV đến cách mạng 1789

– Mùa xuân mới: giữa thế kỷ XIX đến nay

I. THỜI PHÁT TRIỂN (THẾ KỶ XIII)

1. Dòng Giảng Thuyết

Tháng 4-1215 tại Toulouse, hai thanh niên Thomas và Seila tuyên hứa trong tay Cha Thánh Đaminh; sau đó, thêm bốn anh em nữa. Họ được Đức Cha Foulques tặng cho một nhà thờ. Tại đây, anh em cử hành phụng vụ chung, sống nghèo khó, và tuân phục,… Đó mới là một dạng huynh đoàn giáo phận.

Ngay lúc này, Cha Thánh Đaminh đã thêm một yếu tố mới vào cộng đoàn là việc học hành, chính ngài dẫn 6 anh em tiên khởi đến học với Cha Alexandre Stavenby tại Toulouse. Dựa vào kinh nghiệm sống tại kinh sĩ đoàn Osma, Cha Thánh Đaminh và anh em chọn tu luật thánh Augustino, và xin Tòa Thánh châu phê cộng đoàn mới với danh xưng “ANH EM THUYẾT GIÁO”.

Ngày 22-12-1216, Đức Thánh Cha Honorio III đã ban hai sắc lệnh thành lập Dòng, và gọi họ là chiến sĩ Đức tin và ánh sáng thế gian. Ngày 21-01-1217, Đức Honorio III chính thức tuyên bố danh xưng “DÒNG ANH EM THUYẾT GIÁO”, đồng thời ủy thác cho Dòng trách vụ “truyền giảng Lời Chúa”.

Các Tổng Hội họp hàng năm từ 1220 đến 1228 đã hoàn thành bản Hiến Pháp tiên khởi. Bản văn đề ra một tổ chức hoàn hảo và dân chủ theo nguyên tắc tập thể, bổ sung và đại biểu; đã trù liệu việc tu chỉnh thường xuyên cho phù hợp với sự phát triển nhân sự và địa giới, phù hợp với nhu cầu của thời đại. Tuy nhiên, để trở thành Hiến Pháp, các Chỉ Thị phải được ba Tổng Hội liền chấp thuận. Để anh em sống trong tinh thần tự do của con cái Thiên Chúa, Cha Thánh Đaminh xác định luật không buộc thành tội.

Tổng Hội 1259 đã phổ biến quy chế về việc học hành. Quy định các cấp Học Viện, vị Lector tu viện, luật chuẩn miễn và kiểm tra khi kinh lý. Hai Thánh Alberto và Thomas Aquinas vẫn được coi như đã rửa tội cho học thuyết Aristote. Nhiều tác phẩm giá trị được phổ biến như: Đối chiếu Kinh Thánh của hồng y Huges, Toàn cảnh của Vincent de Beauvais, Chỉ nam cho nhà Vua của Laurenso Orleans, Truyền kỳ vàng son của Jacques de Voragine, và Hạnh các thánh của Thomas de Cantipré.

2. Thủa ban đầu tràn sức sống

Theo gương Cha Thánh Đaminh tay cầm gậy, bị trên vai, luôn cất bước đăng trình, và lời căn dặn khi phân tán 16 anh em tiên khởi vào ngày 15-8-1217:[3] “Hạt giống phải gieo xuống mới sinh hoa kết trái, còn để trong bao nó sẽ hư mục”… Tất cả, như lời vẫy gọi con cái ngài đi từ Paris, Toulouse, Tây Ban Nha và Roma, đến khắp các lãnh thổ địa cầu, để “học, rao giảng và lập tu viện”.

Lời vẫy gọi đó đưa con cái Cha Thánh Đaminh vào nhiều biên cương khác nhau. Chỉ sau 15 năm khi Thánh Tổ Phụ qua đời, dưới tài điều khiển của Chân phước Jordano de Saxe, Dòng đã phát triển lên đến 12 Tỉnh Dòng với ngót 400 tu viện.

Năm 1253, Đức Thánh Cha Innocente IV ghi nhận các địa chỉ của Dòng Đaminh như sau: “Gửi lời chào thăm và phép lành Tòa Thánh cho các Anh Em Giảng Thuyết đang giảng tại Sarrasin (Ả Rập), Hy Lạp, Bulgarie, Cuman (Bắc Âu), Ethiopie, Syrie, Goths (Đức), Anh Quốc, Arménie, Ấn Độ, Nga, Hungarie và các dân ngoại khác ở Đông Phương”.

Trong lá thư Cha Raymundo gửi cho vua nước Pháp, ta thấy năm 1256, Dòng có 10.000 linh mục, 3.000 tập sinh, chưa kể số sinh viên và trợ sĩ. Trong một thế kỷ, Dòng đã cung cấp cho Giáo Hội 300 Giám mục, 13 Hồng y.[4] Dòng cũng được trao cho trách vụ “Tôn Sư Thánh Điện”, tức Thần học gia của Giáo Triều.[5] Nhiều Tu sĩ Đaminh nằm trong danh sách các pháp quan, đặc sứ, sứ giả, trọng tài hoặc người hòa giải.

Năm 1276, Hồng y Tarentaise đắc cử Giáo hoàng, đó là Chân phước Innocente V. Tuy chỉ lão đạo Giáo Hội trong vòng năm tháng, ngài đã nỗ lực cho việc hòa giải Giáo Hội Đông-Tây tại Công Đồng Lyon II, và mở rộng sứ vụ truyền giáo qua Trung Hoa.

Hoạt động của Dòng Anh Em Giảng Thuyết ngay từ đầu đã được ướp nồng trong lời cầu nguyện của chị em đan sĩ các đan viện, như Prouille ở Pháp, Saint Agnes ở Bologne, Saint-Sixto ở Roma. Năm 1259, Cha Humberto ban hành bản Hiến Pháp Đan Viện,[6] được sử dụng cho đến năm 1929. Năm 1267, Đức Thánh Cha Clemente IV đã ban sắc chỉ đặt các Đan Viện Đaminh dưới quyền tài phán của Vị Bề Trên Tổng Quyền của Dòng. Dòng có bổn phận thiêng liêng với các nữ đan viện, còn chị em tự túc về đời sống vật chất.

Nguồn gốc Dòng Ba Đaminh khởi từ “phong trào hãm mình trong giáo dân”.[7] Họ thường nhờ các Linh mục Dòng ở gần làm linh hướng. Năm 1285, Cha Tổng Quyền Munio đã công bố bản “Quy Luật Dòng Ba Đaminh”. Dù mãi đến năm 1405 bản Quy Luật này mới được Đức Thánh Cha Innocente VII chính thức châu phê, nhưng ngay từ năm 1286, khi ban các đặc ân cho các “anh chị em hãm mình Thánh Đaminh”, Đức Thánh Cha Honorio IV đã mặc nhiên phê chuẩn văn kiện này.

Thế kỷ XIII được ghi đậm nét với những dấu chân dặm ngàn của Thánh Giacinto Odrowaz (1185-1257), rong ruổi khắp miền Bắc Âu, và cùng người anh ruột, Chân phước Ceslao, đem Tinh Thần Dòng về quê hương Ba Lan. Trang sử giai đoạn này còn được điểm tô thêm bằng máu đào của Thánh Phêrô Verona (1205-52), dũng cảm bênh vực đạo lý đức tin, ngã gục dưới mũi kiếm của đối phương mà vẫn cương quyết lấy máu mình viết trên mặt đất “Tôi tin…” Sau đó Chân phước Sadoc và 48 anh em Đaminh lãnh ngành vạn tuế tại Bolonia (1260), trong âm vang lời ca đầy tin tưởng “Lạy Nữ Vương,…”.

Dòng Đaminh ghi dấu ấn trong thế kỷ này với các danh sư tại đại học: Thánh Alberto Cả (+1280), mà đại học không đủ chỗ cho sinh viên, phải đứng lớp ngoài quảng trường nay còn ghi danh ngài. Giáo Hội suy tôn ngài là Tiến sĩ Bách Khoa, và đặt làm bổn mạng các nhà khoa học tự nhiên. Thánh nhân đã thu thập vật tư để người môn sinh là Thánh Thomas Aquinas (1225-74) vị Tiến sĩ Thiên Thần, xây cất một cung điện Thần học tráng lệ với bộ Tổng Luận Thần Học. Đức Thánh Cha Phaolô VI ca tụng ngài là: “Thánh thiện nhất trong những nhà thông thái và thông thái nhất trong hàng ngũ các thánh”.

Ngoài ra còn phải kể đến Thánh nữ Magarita nước Hungary (+1270), giã từ hoàng cung giàu sang để nên giống Vua các anh hùng tử đạo, sống khiêm hạ nhưng mạnh dạn tố cáo những bất công của xã hội; phải nhớ đến Thánh Raymundo (+1274), người san định bộ Giáo luật 1234, và là Vị Tổng Quyền luôn “sẵn sàng yểm trợ anh em trong mọi gian truân và cùng anh em uống cạn những gì Chúa đã trao”.

II. THỜI CẢI TỔ – CANH TÂN (THẾ KỶ XIV – XV)

Cũng như lịch sử Giáo Hội sau năm 1303, Dòng Anh Em Giảng Thuyết có nhiều dấu hiệu suy yếu, do hoàn cảnh chiến tranh liên miên giữa các quốc gia, do nạn dịch đen (dịch hạch) sát hại đến 1/3 dân số Âu Châu, việc Tòa Thánh di trú tại Avignon, rồi đến thời đại-ly-giáo Tây Phương với sự xuất hiện cùng lúc tới hai và ba Giáo hoàng. Chân phước Benedicto XI, O.P. (1303-04), người tích cực cổ võ sự hòa hợp Giáo Hội Đông – Tây, đã bị đầu độc chết sau tám tháng trị vì.

Trong bối cảnh đó, thường có hai Tổng Hội Đaminh được tiến hành song song, có đến bốn Vị Tổng Quyền và 13 Tổng Hội ủng hộ Giáo hoàng Avignon (không được đếm số thứ tự). Thực ra, hoàn cảnh lúc đó thật mơ hồ, chính Thánh Vincent Ferrier đã một thời ủng hộ phía Giáo hoàng Avignon.

Sau cơn dịch đen, nhiều Tỉnh Dòng bị chia cắt, nhiều tu viện bị bỏ hoang, việc tuyển chọn và đào tạo bị lơi lỏng, dẫn đến tình trạng kỷ luật sa sút, thậm chí đi đến phóng túng. Tất cả đòi hỏi phải tiến hành việc cải tổ. Công trình kéo dài đến cả thế kỷ. Chân phước Raymundo Capua và Thánh Catharina Sienna là những nhân vật rất nhiệt thành trong công việc này.

Dầu sao, Dòng vẫn tiếp tục có những nhà giảng thuyết tài ba. Như Cha James Passavanti tại Florence, nhà giảng thuyết về sám hối; Cha Venturim Bergame một sứ giả hòa bình, và chân phước hồng y John Dominici, đã góp phần quan trọng chấm dứt tình trạng nhiều giáo hoàng này.

Ngay giữa những hoang mang của thời đại-ly-giáo, ta thấy nổi bật lên gương mặt hiền hòa nhưng cương quyết của một nhi nữ anh hùng: Thánh Catharina Sienna (1347-1380). Thật lạ, một thiếu nữ trạc ba mươi, dám băng mình vào việc đưa Tòa Thánh từ Avignon hồi loan Roma, đã đứng ra hòa giải các ông hoàng, đã để lại tác phẩm “Đối Thoại” mang nhiều lợi ích cho nhiều người, và sẽ được Đức Thánh Cha Phaolô VI suy tôn lên hàng Tiến sĩ Hội Thánh (4-10-1970).

Cùng thế kỷ này, trong khung cảnh thơ mộng vùng lưu vực sông Rhin, thấp thoáng những nhà thần bí Đaminh. Đó là Cha Eckhart (+1327), đã sử dụng ngôn ngữ địa phương đề trình bày về mầu nhiệm Thiên Chúa; Cha John Tauler (+1361) và Chân phước Henri Suso (+1366), vị giảng thuyết thành công đến độ người ta đã treo giá lấy đầu ngài.

Một hiệp hội đông đảo giáo sĩ và tín hữu quy tụ quanh ba vị, họp thành nhóm “Thân hữu Thiên Chúa”, hoạt động và cầu nguyện cho cuộc canh tân thiêng liêng của Giáo Hội.

Bên cạnh đó, còn có các nhà thần bí nữ, nổi bật là Thánh nữ Catharina Sienna và Chân phước Magarita Ebner,… Có lẽ chưa khi nào anh chị em Đaminh cùng chung nhau một nét linh đạo cho bằng tại khu vực sông Rhin thế kỷ này.

Sang thế kỷ XV, Kinh Mân Côi được cổ võ đặc biệt. Chân phước Alain de la Roche khởi xướng Hội Mân Côi, gồm các hội viên tình nguyện đọc kinh Mân Côi và suy niệm các mầu nhiệm trong cuộc đời Chúa Giêsu và Mẹ Maria.

III. THỜI PHỤC HƯNG (THẾ KỶ XV-XVIII)

Bước sang thời Phục hưng, Giáo Hội đối diện với các biến chuyển sâu xa của xã hội: phong trào chinh phục đất mới, sự xuất hiện các nhà Cải Cách (Tin Lành), thời những nhà tư bản mới, phong trào nhân bản, văn hóa và nghệ thuật. Kinh nghiệm chia rẽ trong quá khứ đã góp phần hình thành một Giáo Hội thời Công Đồng Trento: tập trung và đồng nhất.

Trong tình hình ấy, những sinh hoạt của Dòng Anh Em Giảng Thuyết đôi khi bị Tòa Thánh can thiệp. Ba vị Tổng Quyền Auribelli, Sixto Fabri và Ridolfi bị các Giáo hoàng truất chức (1462, 1589, 1643). Hồng y bảo trợ Carafa thì giành quyền điều hành (1485-1490); hồng y Bonelli với chức tổng đại diện, đã đưa ra danh sách ứng viên. Các Tổng Hội phải nỗ lực nhiều để bảo vệ sự độc lập của Dòng, và yêu cầu Tòa Thánh phục hồi danh dự cho các vị Tổng Quyền trên.

Cũng trong thế kỷ XV, xuất hiện “Huy Hiệu Áo Choàng” trên trang nhất các sách của Dòng. Huy Hiệu hình khiên mầu bạc với hai vạt đen, giống tu phục đen trắng của Dòng. Huy hiệu này tồn tại đến thế kỷ XX, mới xuất hiện “Huy Hiệu Bông Huệ”. Việc sử dụng một Huy Hiệu tương tự như các hiệp sĩ và dòng tộc đương thời, là chỉ dấu cho thấy Dòng ý thức về vị trí và sức mạnh tập thể của mình. Năm 1656, Tổng Hội Roma xác định khẩu hiệu chính thức của Dòng là “LAUDARE – BENEDICERE – PRAEDICARE” (Ngợi Khen – Chúc Tụng – Rao Giảng).

Thời Phục hưng ghi dấu với Thánh Vincent Ferrier (+1419), nhà giảng thuyết sám hối được ví với thiên thần trong sách Khải Huyền, rong ruổi khắp Tây Âu, hoạt động tận lực đến độ không có giờ ăn uống ngủ nghỉ, phải soạn bài giảng cả trong lúc di chuyển. Với Thánh Giám mục Anthony (+1459) vị bảo vệ Giáo Hội độc lập với thế quyền, ưu tư tổ chức việc cứu tế xã hội, vị bề trên tu viện đã yểm trợ cho Chân phước họa sĩ Fra Angelico, diễn giảng các mầu nhiệm đạo lý bằng những họa phẩm sống động, mà thiên tài Michel Angelo sẽ khen ngợi: “Không ai vẽ nổi như thế, nếu chưa được chiêm ngưỡng trước trên trời”.[8] Tại Florencia, Cha Savonarola (+1498) và các tu sĩ Đaminh đã can đảm lên tiếng khẩn nài việc canh tân Giáo Hội dù phải lên giàn lửa thiêu.

Sang thế kỷ XVI, lịch sử Dòng Anh Em Giảng Thuyết được tô đậm nét thêm với Thánh Pio V (+1572), vị Giáo hoàng Lễ Mân Côi, người đã góp phần quan trọng biến thành hiện thực những quyết định của Công Đồng Trento, đã cải tổ phụng vụ, giáo lý, đề cao việc truyền giáo khắp hoàn cầu; với Thánh nữ Catharina Ricci (+1590) đã truyền lại cho hậu thế những vần thơ Kinh Thánh và những tài liệu thiêng liêng giá trị, giúp nhiều người đến kín múc nơi biển cả Tình yêu của Thiên Chúa; và thánh Louis Bertrand (+1590) đã đem về cho Giáo Hội hàng trăm ngàn dân bản xứ Mỹ Châu.

Vì mục tiêu của Dòng là “Loan Tin Mừng danh thánh Chúa Giêsu Kitô khắp hoàn cầu”, anh em Đaminh đã có mặt bên những nhà thám hiểm đầu tiên của Châu Mỹ. Chính Cha Diego Deja đã góp lời để vua Tây Ban Nha cung cấp tàu bè và đã đồng hành với Christophe Colomb đến San Salvador. Từ nay, bản đồ lãnh thổ của Dòng sẽ ghi thêm nhiều tu viện và 9 tân Tỉnh Dòng tại Tân Thế Giới, nâng số Tỉnh Dòng từ 22 lên 35.

Dòng Anh Em Giảng Thuyết tại Tân Thế Giới đã nở tặng cho Giáo Hội những bông hoa đầu mùa thánh thiện, đó là: Thánh nữ Rosa Lima (+1617) mẫu gương sống thánh giữa đời; đôi bạn thân, là Thánh Martin de Porres (+1639) và Thánh John Masias (+1645), hai tu huynh, một đen một trắng nổi tiếng về lòng bác ái thương người. Bên cạnh đó là tập thể các tu sĩ Đaminh đấu tranh cho nhân quyền của thổ dân, điển hình là: Cha Montesinos cùng với tu viện phản đối các nhà chinh phục tại quần đảo Antilles; Cha Vitoria ở đại học Salamanca, người khởi xướng công pháp quốc tế; và nhất là Giám mục Bartolomeo de Las Casas, người đã vượt đại dương 13 chuyến, đến triều đình Tây Ban Nha để yêu cầu xóa bỏ chính sách Encomienda.

Trong thế kỷ XVII, cũng như Giáo Hội, Dòng Anh Em Giảng Thuyết đã phải cố gắng nhiều để độc lập được với thế quyền, và phải đối phó với cuộc khủng hoảng lương tâm do các học thuyết Jansenisme, Quietisme, Pháp giáo và Josephisme,… đặc biệt là cuộc tranh chấp “lễ phép nước Ngô” về việc thờ kính tổ tiên.

Thế nhưng, trang sử của Dòng thời kỳ này rực sáng lên tại miền Á Châu, bằng những dòng chữ nổi viết bằng máu đào. Nếu tại Trung Hoa có sáu vị hiển thánh, trong đó có Cha Capillas tử đạo tiên khởi,[9] thì trên mảnh đất Phù Tang Nhật Bản, Dòng đã đóng góp 16 hiển thánh[10] và hàng trăm chân phước tử đạo. Tại Việt Nam, Dòng đã cộng tác với Hội Thừa Sai Paris để viết lên ba thế kỷ lịch sử Giáo Hội tại đây, trong đó nổi bật lên chân dung của 38 vị Thánh Tử Đạo tại Việt Nam (từ 1745 đến 1861) đã được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II suy tôn hiển thánh ngày 19.6.1988.

Trong giai đoạn độc tài chuyên chế và thế kỷ Ánh Sáng (thế kỷ XVIII), Dòng Anh Em Giảng Thuyết bị Tòa Thánh và các chính quyền chi phối về nhiều mặt. Số Tỉnh Dòng gia tăng bởi lý do có nhiều Tỉnh Dòng bị phân chia. Tổng Hội họp thưa thớt, suốt hai thế kỷ (1629-1832) chỉ có 15 Tổng Hội được tiến hành, trong đó hai Tổng Hội cuối cách nhau đến 55 năm. Thế nhưng từ nay, vai trò của Vị Tổng Quyền ngày càng được gia tăng.

Ảnh hưởng thời đại, nhiều tác giả trong Dòng có những tư tưởng xa lạ với Thần học Thánh Thomas Aquinas, khiến các Vị Tổng Quyền phải lo lắng. Nhiều anh em rơi vào những cuộc tranh luận vô bổ với các nhóm Tin Lành. Tuy nhiên, ngành nghiên cứu sử Dòng lại phát triển, với nhiều công trình giá trị như tác phẩm “Các Tác Giả Dòng Thuyết Giáo”, và bộ “Anné Dominicaine”.

IV. MÙA XUÂN MỚI

Cuộc cách mạng Pháp đã để lại cho Dòng Anh Emm Giảng Thuyết những vết thương nặng nề. Tại nhiều nước, các Dòng tu bị giải tán, các tu sĩ phải lưu vong. Nhiều cơ sở của Dòng tại Mỹ Châu Latinh bị phe cách mạng cướp bóc, tàn phá. Do ảnh hưởng của chính quyền, khối Tây Ban Nha tách ra từ 1804-1841, với vị Tổng Quyền riêng. Thánh Coll Guitart (+1875) phải gắn bó với đoàn sủng Đaminh trong tình trạng ngoại vi.

Tuy nhiên, hết Đông rồi sang Xuân. Sau khi Napoléon thua trận năm 1815, sức sống của Dòng Anh Em Giảng Thuyết từng bước được hồi sinh. Số tu sĩ của Dòng xuống thấp nhất năm 1876 là 3.474, đã tăng lên 10.150 vào năm 1963. Mùa xuân mới của Dòng khởi sự với hai chân dung tiêu biểu cho hai khuynh hướng khác biệt bổ túc cho nhau. Cha Lacordaire, như một vị ngôn sứ, khi tái lập Tỉnh Dòng Pháp năm 1840, ưu tiên cổ võ sứ vụ Giảng Thuyết. Trong khi đó, Bề Trên Tổng Quyền Jandel thì tha thiết với việc canh tân kỷ luật, học hành và đời sống cộng đoàn để hoàn thành sứ vụ.[11] Bản Hiến Pháp xuất bản năm 1872 phổ biến khẩu hiệu “VERITAS”.

Về sứ vụ giảng thuyết, ngoài Cha Lacordaire ở Pháp, còn có Cha Thomas Burke ở Ireland đã thu hút thính giả đến chật ních các nhà thờ. Cha Chardon phục hưng Hội Mân Côi ở Lyon năm 1858, cổ võ đọc kinh Mân Côi hàng ngày; sau này Hội có đến hàng trăm ngàn thành viên. Năm 1871, Đức Thánh Cha Pio IX đặt hội “Kinh Mân Côi Sống” (1826) do Chị Pauline Jaricot sáng lập, dưới quyền điều hành của anh em Ðaminh.

Năm 1936, Dòng Anh Em Giảng Thuyết chính thức đặt trụ sở trung ương tại Santa Sabina. Báo Analecta và sau đó là nội san I.D.I.[12] được phát hành với nhiều ngôn ngữ từ thập niên 1960, đóng vai trò thông tin và nối kết hiệp thông giữa các thành phần trong gia đình Đaminh. Từ đây, các Tổng Hội được tổ chức đều đặn ba năm một lần, chỉ trừ hai lần trong đệ nhị thế chiến và năm 1952.

Trước cách mạng Pháp, Dòng có 180 nữ đan viện; năm 1895, chỉ còn 150. Đến năm 1966, đã có đến 216 đan viện, với khoảng 5.700 đan sĩ. Các đan sĩ có Hiến Pháp mới vào năm 1929, và được cập nhật vào năm 1971. Các nữ tu Đaminh hoạt động ngày càng đông. Năm 1895 có khoảng 20.000 nữ tu với 55 Hội Dòng. Năm 1966 đã có 46.000 nữ tu thuộc 136 Hội Dòng. Sau Công Đồng Vatican II, chúng ta thấy xuất hiện thêm các Tu Hội Đời Đaminh.

Dòng Ba Thế Giới có Quy chế được cập nhật nhiều lần vào những năm 1923, 1964, 1968 và 1985 (sau hội nghị Huynh đoàn quốc tế ở Canada). Bên cạnh các Huynh Đoàn, gần đây xuất hiện thêm các phong trào Giới Trẻ Đaminh Thế Giới (DYM, IDYM)[13] và Chí Nguyện Quốc tế (DVI Volunteers), ưu tiên dấn thân cho công tác xã hội, công lý và hòa bình.

Trong thế kỷ XX, sứ vụ Đaminh ngày càng phong phú, với nhiều hình thức mới như kịch nghệ, điện ảnh, truyền thanh, truyền hình và gần đây là các trang mạng (Website, blogpost, Facebook, Twitter,…). Về sứ vụ xã hội, nhiều anh em dấn thân cải thiện đời sống của giới công nhân. Cha José Gafo ở Tây Ban Nha, bị hành quyết trong nội chiến 1936 vì hoạt động này. Tại Pháp, Cha Lebret và nhiều anh em đã tổ chức các “tuần lễ xã hội” tại các Giáo phận. Năm 1944, Cha Loew trở thành phu khuân vác tại bến cảng Marseille, khởi xướng phong trào linh mục thợ. Tại Fribourg, Cha Utz thiết lập “Viện Khoa Học Xã hội”. Cha Dominique Pire (+1968) thuộc Tỉnh Dòng Bỉ, đã nhận giải thưởng Nobel hòa bình năm 1958, vì các hoạt động bảo vệ nhân quyền, qua việc thiết lập các trại tị nạn.

Trong một thế kỷ, nhiều Tỉnh Dòng mới đã được thành lập. Canada (1911), California (1912), Úc (1950), Braxin (1952), Việt Nam (1967), Philippines (1971), Martino Hoa Kỳ (1978), Nigeria (1993), Ấn Độ (1997), Slovakia (2003) và Trung Mỹ Châu (2006). Sau thế chiến và biến cố 1989,[14] nhiều Tỉnh Dòng được khôi phục, nhiều vùng truyền giáo mới được mở ra, sứ vụ truyền giáo được hầu hết các Tỉnh Dòng quan tâm. Năm 1966, có 1.175 anh em (15 Giám mục) dấn thân tại 40 miền truyền giáo.

Việc học hành càng phát triển. Nhiều trường đại học của Dòng được củng cố, như Angelicum ở Roma, Santo Tomas ở Manila, phân khoa Thần học Fribourg. Cha Lagrange cổ võ nghiên cứu các văn bản Kinh Thánh và là người sáng lập trường Kinh Thánh Giêrusalem (Stephano). Cha Henri Johns tại Anh và Cha Yves Congar tại Pháp, là những người tiên phong của phong trào đại kết, đã phát hành bộ tuyển tập “Unam Sanctam”. Năm 1943, anh em Đaminh Pháp sáng lập “Trung Tâm Mục Vụ Phụng Vụ”, xuất bản tạp chí “Fêtes et Saisons”. Ủy ban Léonine, nghiên cứu về Thánh Thomas Aquinas do Đức Thánh Cha Leo XIII thiết lập, cũng được ủy thác cho Dòng.

Khoảng 50 tu sĩ Đaminh, với tư cách Giám mục hoặc chuyên viên Thần học đã góp phần trong Công Đồng Vatican II. Những đóng góp của các Cha Chenu, Congar và Schillebeeckx tại Công Đồng được nhiều người biết đến. Cha Congar (1904-95) ở tuổi 90, đã được trao tặng mũ hồng y.

Trong tinh thần về nguồn của Công Đồng Vatican II, bản Hiến Pháp Dòng có những sửa đổi quan trọng từ năm 1968, đến bản văn cuối năm 1974. Quy định một tu phục chung cho tư giáo và tu huynh (1965). Phụng vụ được cử hành theo chu kỳ chẵn lẻ và năm ABC của Giáo Hội, kèm với phần lễ nguyện riêng.

Nhờ phương tiện hàng không, các Vị Tổng Quyền kể từ thời Cha Suarez đã có thể đi kinh lý các nơi. Dần dần, các ngài có thêm sự hỗ trợ của tám vị phụ tá đặc trách các Tỉnh Dòng: Châu Âu, Bắc Âu – Canada, Bán đảo Iberique, Hoa Kỳ, Mỹ Châu Latinh, Châu Phi, Vùng Slave và Châu Á Thái Bình Dương. Ngoài ra, còn có các vị phụ tá Tổng Quyền trong nhiều công việc khác nhau: Tổng đại diện quan hệ với Tòa Thánh, Thỉnh nguyện viên phong thánh, Quản thủ công hàm, và Tổng quản lý. Các “cổ động viên” đặc trách sứ vụ tông đồ, trí thức, truyền thông, nữ tu và đan sĩ, huynh đoàn và các hội Mân Côi.

Cho đến nay, Dòng đã có tất cả 87 vị Tổng Quyền kể từ Cha Thánh Đaminh; và vị Tổng Quyền đương nhiệm hiện nay là Cha Bruno Cadoré, thuộc Tỉnh Dòng Pháp. Cha Bruno Cadoré được anh em tín nhiệm vào trách vụ Tổng Quyền tại Tổng Hội Roma năm 2010. Với Tổng Hội nhóm họp tại Trogir, Croatia năm 2013, là Tổng Hội thứ 291 và cũng là mới nhất của Dòng.

 

 


[1] Dòng Anh Em giảng Thuyết (Ordo Praedicatorum) còn được gọi với danh xưng khác là Dòng Đaminh

[2] Dòng Anh Em Giảng Thuyết, Công Vụ Tổng Hội Trogir, Croatia, năm 2013, số 49

[3] Sự kiện này vẫn thường quen được gọi là “Lễ Hiện Xuống” của Dòng Anh Em Giảng Thuyết

[4] Khởi đầu là Hồng y Hugues de Saint-cher (1244-1263)

[5] Danh xưng “Thần học gia Giáo Triều” còn được biết dưới tên gọi khác là “Thần học gia Phủ Giáo Hoàng”. Chức vụ này được đặc cách dành riêng cho các Anh Em Đaminh. Các Anh Em Đaminh được bổ nhiệm vào chức vụ “Thần học gia Phủ Giáo Hoàng” trong thời gian gần đây là: Đức Hồng y Georges Cottier, OP. (1990-2005); Cha Wojciech Giertych, người Ba Lan (từ 2005).

[6] Số nữ đan viện Đaminh năm 1277 là 58; năm 1303 là 141 và năm 1358 là 157. Chân phước Cecila và Dianna được kính ngày 8-6.

[7] Thành viên chính thức của Dòng Anh Em Giảng Thuyết thường được gọi: (1) Dòng nhất (Gồm các Anh Em linh mục Dòng Đaminh, Tu sĩ, Tu huynh); (2) Dòng nhì (Gồm các nữ Đan sĩ Đaminh); (3) Dòng ba (Gồm các Anh Chị Em giáo dân thuộc Huynh đoàn Đaminh; Một số “Huynh đoàn biệt lập” với những qui chế riêng cho mỗi Huynh đoàn).

[8] Bức tranh Tiệc Ly của danh họa Leonardo de Vinci được vẽ trên tường nhà ăn tu viện Đaminh ở Milan.

[9] Dòng có 2 Giám mục và 4 linh mục Tây Ban Nha trong số 120 Thánh tử đạo Trung Hoa, được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II suy tôn năm 2000.

[10] Được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II tuyên thánh năm 1987.

[11] Cha Jandel được Đức Thánh Cha Pio IX đặt làm tổng đại diện năm 1850, sau đó làm Tổng Quyền hai khóa cho đến khi qua đời (1855-1872)

[12] I.D.I.: Informations Dominicaines Internationales (Thông tin quốc tế Dòng Đaminh).

[13] International Dominican Youth Movement. Với đại hội tại Fatima năm 2009, và tại Bogota năm 2013.

[14] Sau thế chiến thứ 2 kết thúc năm 1945, và đặc biệt sau cuộc “chiến tranh lạnh” với sự kiện bức tường Berlin sụp đổ năm 1989, nối kết Đông-Tây Đức Quốc.

 

Lịch Sử Dòng