Các tôn giáo khác nhau đang cạnh tranh nhau, và chúng ta phải học cách đối xử với tính đa số của tôn giáo đang mời gọi phản ứng của chúng ta.
ĐỨC GIÊSU KITÔ VÀ CÁC TÔN GIÁO
LUẬN VĂN VỀ THẦN HỌC CÁC TÔN GIÁO
Nguyên tác: JESUS CHRIST and the Religions: An Essay in Theology of Religions
Tác giả: Hans Waldenfels
Dịch giả: Trần Hữu Thuần
***

***
VÀI LỜI GIỚI THIỆU CỦA NGƯỜI DỊCH
Hans Waldenfels là một Linh mục Dòng Tên người Đức đã nghiên cứu thần học và tôn giáo tại Tokyo, Hiroshima, và Kyoto, và rồi Rôma. Ông là một môn đồ của trường phái các nhà triết học Nhật Keiji Nishitani và Yoshinori Takeuchi. Về sau, ông còn theo học với Masao Abe ở Tokyo, và Heinrich Dumoulin, sử gia về Phật giáo thiền. Tại Bonn, Đức, ông kế vị Joseph Ratzinger và Heimo Dolch ở chức vụ trưởng khoa thần học nền tảng. Chính vào thời gian giữ chức trưởng khoa này, tại Đức, ông lần đầu tiên đã đưa vào đối thoại liên tôn giáo. Ông đã thực sự thực hiện việc đối thoại với đại diện các tôn giáo châu Á, cũng như với người Hồi giáo và Do thái giáo. Với ông, đối thoại liên tôn giáo không chỉ là một vấn đề thần học và suy tư, mà còn là một cuộc gặp gỡ và tiếp xúc cá nhân.
Nguyên xuất hiện bằng tiếng Đức với nhan đề Christus und die Religionen, cuốn sách gồm năm chương, với chương 1 và 3 nói về đức tin Kitô giáo vào Đức Giêsu, chương 2 và 4 về thái độ Kitô giáo đối với các tôn giáo không Kitô giáo, và chương cuối về đối thoại liên tôn giáo theo nghĩa hẹp.
Nhận định về cuốn sách, Peter C. Phan, giáo sư Đại học Georgetown, Washington, D.C., Hoa kì, đã viết:
Cái nhìn tích cực của Waldenfels với các tôn giáo không Kitô giáo có ảnh hưởng bao la trên đối thoại liên tôn giáo. Trước tiên, ông xử lý tôn giáo không phải như là một thể loại phổ quát và trừu tượng mà là một hiện thân của sự siêu việt con người. Các hiện thân này có thể và quả thực mang một đa dạng các hình thái của “tâm linh mà,” với Waldenfels, ngày nay hết sức quan trọng khi “tôn giáo tự hòa mình vào trong các thành tố của cấu trúc.” Thứ hai, ông nhìn thấy tôn giáo không phải như là một lịch sử đặc biệt và riêng lẻ mà là một thành phần không thể thiếu của lịch sử thế giới. (Điểm sách “Jesus Christ and the Religions,” www.dunglac.org).
Xin trân trọng giới thiệu.
***
GỬI NGƯỜI ĐỌC
(To the reader)
Khi tôi bắt đầu đụng chạm đến nền thần học các tôn giáo vào những năm 1970, đúng hơn nó là một thú vui cho các chuyên gia, trong khoảng chục năm gần đây; Tuy nhiên, nó đã trở nên một thách thức mạnh mẽ cho các nhà thần học và cho các cộng đoàn Kitô giáo trên thế giới. Bất cứ ở nơi đâu, chúng ta gặp gỡ các nhóm chủng tộc và tôn giáo khác nhau. Bằng cách truy cập Internet, chúng ta gặp vô số các lời mời đến các biến cố trung tâm và gặp mặt Ấn giáo, Phật giáo và các tôn giáo mới. Thế nhưng, trước vấn đề nhiều câu hỏi về tôn giáo đặt ra ngày nay, sự sẵn sàng và khả năng cho Kitô hữu để trả lời xem ra có phần nghèo nàn. Đã quá lâu ngày, người ta quen thuộc với sức mạnh của môi trường của họ, thế nào để các nỗ lực cá nhân trong việc đào sâu tri thức và thực hành tôn giáo hiển nhiên đều không cần thiết. Vào thời gian này, tại châu Âu nơi tôi thường sinh sống, người ta cảm thấy trộn lẫn sự khó chịu và tò mò với tôn giáo, thậm chí đề kháng, thường chỉ trích, và lãnh đạm. Thường mọi chuyện này đều được vỏ bọc với một lời mời gọi khoan dung chấp nhận.
Tình hình thay đổi khi các cuộc tấn công khủng bố kinh hoàng ngày 11 tháng 9, 2001 tại New York và Washington thức tỉnh người dân thế giới phương Tây và mở đôi mắt họ ra nhìn thấy các thành tố hung hãn trong Hồi giáo và sự hiện diện và bành trướng của ảnh hưởng Hồi giáo khắp thế giới. Nhanh chóng họ tự phản ánh về bạo lực trong tôn giáo như vậy. Trong nhiều đối kháng, tôn giáo liên quan, tại Palestine và Cận Đông, tại nhiều nước châu Phi, tại Indonesia, tại Ấn độ và Pakistan. Nhưng trong tất cả tình trạng lẫn lộn đó, tôn giáo không đang hấp hối. Nó đang thay đổi bộ mặt, điều này đúng, nhưng chẳng cách nào tôn giáo có thể bị coi như đơn thuần chỉ là một công việc riêng tư, bởi vì ảnh hưởng của nó trên cuộc sống công cộng khó có thể chối bỏ được. Theo ý nghĩa này, tình hình chung đang nhanh chóng thay đổi. Tuy nhiên, chúng ta không còn đang sống trong thế giới của một tôn giáo duy nhất nữa, tôn giáo mà chúng ta thuộc về. Các tôn giáo khác nhau đang cạnh tranh nhau, và chúng ta phải học cách đối xử với tính đa số của tôn giáo đang mời gọi phản ứng của chúng ta. Điều đó dẫn đến một số nhận xét đầu tiên:
1. Con người ngày nay cần một tri thức gia tăng về các phương cách thay thế nhau về tư duy và cuộc sống, như chúng ta cần kinh nghiệm về chúng nối kết với các tôn giáo khác nhau sống song song với chúng ta. Tuy nhiên, tri thức có nghĩa rằng chúng ta đến chỗ hiểu được làm sao người khác nhận thức về chính họ và rằng chúng ta vượt qua được các thiên kiến vẫn còn phổ biến và thường được chuyển sang thế hệ kế tiếp.
2. Người ta phải biết rằng chẳng một ai—chẳng chính thể, chẳng khoa học, cũng chẳng tôn giáo, kể cả Kitô giáo—có thẩm quyền đưa ra tuyên bố một vị thế bên trên tất cả các vị thế khác, điều gọi là siêu vị thế (meta-position). Mọi người khởi đầu từ quan điểm nguyên thủy của mình. Điều đó không có nghĩa, dĩ nhiên: một người không thể từ bỏ hoặc thay đổi nó, hoặc rằng người đó không có thể nhìn sự vật từ một quan điểm khác.
3. Như bất cứ người nào khác trong tôn giáo của mình, Kitô hữu phải biết đến chính vị thế Kitô giáo của họ. Và trước khi chúng ta đi vào đối thoại với các tôn giáo khác, các giáo hội và các cộng đoàn khác, đối thoại bị đòi buộc và được thực thi bên trong chính Giáo hội của mình—ở đây: Công giáo. Do đó, các chức quyền giáo hội tuyên bố mà thôi thì chưa đủ, họ còn phải làm nó theo một phương cách gây tranh cãi. Không may là các cuộc đối thoại bên trong giáo hội vẫn còn chưa được vun trồng khéo léo khắp nơi, làm thành một trở ngại nặng nề cho cuộc đối thoại liên đức tin đòi hỏi ngày nay.
4. Vào mùa thu năm 2001, 1550 năm đã trôi qua kể từ Công đồng Chalcedon với các khẳng định giáo điều uy quyền liên quan đến ngôi vị của Đức Kitô xẩy ra. Năm mươi năm về trước, một số nghiên cứu lí thuyết về lịch sử giáo điều đã được thực hiện, đúng thế, nhưng trong thời đại chúng ta, giáo huấn của Chalcedon lại nằm trên lịch trình của nền thần học Kitô giáo, và còn hơn thế, bởi vì việc từ khước thần tính của Đức Kitô hàm ý một sự suy yếu trong vị thế Kitô giáo. Các chức quyền Rôma ngày nay cảnh giác đến chừng nào có thể nhìn thấy được qua sự kiện rằng Ủy ban Đức tin đã đưa ra ba khuyến cáo (notifications), cả ba đều nhiều ít đề cập đến cùng các câu hỏi Kitô học: chống lại tu sĩ Dòng Tên người Belgium Jacques Dupuis ngày 26 tháng 2, 2001, chống lại Tu sĩ Dòng Tên người Mĩ Roger Haight ngày 7-8 tháng 2, 2005, và chống lại Tu sĩ Dòng Tên người Tây ban nha Jon Sobrino, người nhiều năm sinh sống tại El Salvador, vào ngày 15 tháng 3, 2007. Theo một phương cách, quan điểm căn bản của Giáo hội được tóm tắt trong một tuyên bố của cùng một ủy ban Rôma nhan đề Dominus Iesus. Nhưng hãy để chúng ta nói thành thực: Toàn bộ điều này được thực hiện theo một phương cách có phần chẳng có tính đối thoại.
Một số trong các vấn đề hiện thời sẽ được thảo luận trong sách này, đầu tiên được viết ra sau việc ban hành Dominus Iesus. Lí do chính cho nó là sự kiện rằng tại đất nước tôi, nước Đức, mục đích chính của lời tuyên bố có phần mờ tối, bởi vì phần lớn những người đã đọc bản văn thấy bực tức về phán đoán về bản chất của các giáo hội (Tin lành) của họ. Tuy nhiên, chúng ta đang ở trong thời đại của chủ thuyết số nhiều (pluralism) trong đó chúng ta phải xem xét lại thái độ chúng ta đối với chính chúng ta và đối với người khác. Chẳng chút nghi ngờ, chủ thuyết số nhiều tôn giáo cũng làm cho Kitô hữu bày tỏ lòng ngưỡng mộ của họ. Điều này bao gồm trên tất cả trong một thể loại chủ thuyết tự tương đối (self-relativism), với sự dè dặt của các tuyên bố Kitô giáo về lãnh vực nội tại giáo hội và một thay đổi căn bản về các hoạt động truyền giáo của chúng ta vì chúng ta phải kiềm hãm việc tích cực thu phục tín đồ. Tuy nhiên, liệu việc “chung sống” hoà bình, nơi người ta đơn giản sống với nhau người bên cạnh người, có thực sự đã đủ để gọi nó là một cuộc sống con người thực sự không? Có phải có thời gian mà chúng ta học biết và suy tư về cách cư xử qua lại, mà chúng ta háo hức nhiều hơn dấn thân vào việc hiểu biết người khác trong sự khác biệt của họ và rằng đồng thời chúng ta không quên nhấn mạnh và đào sâu niềm tin của chính chúng ta không?
Trong một cuốn sách nhỏ như thế này, tất cả tài liệu có thể có về một nền thần học tôn giáo không thể thảo luận chi tiết như Jacque Dupuis Dòng Tên đã làm cách đẹp đẽ trong tác phẩm dày cộm của ông. Tôi đã phải tuyển chọn vả kiềm hãm bản thân vào một số ý niệm để người đọc sẽ tiếp tục nghiên cứu riêng mình. Những gì tôi thấy quan trọng chính ngay từ đầu là thế này: Theo một phương cách, chúng ta phải sống trên hai hay nhiều khía cạnh; ít nữa chúng ta phải ngắm đi nhìn lại từ hai hay nhiều khía cạnh. Chúng ta phải làm sáng tỏ và đào sâu việc tự nhận thức của chúng ta, và đồng thời chúng ta phải chiêm ngắm sự việc từ các quan điểm khác; chúng ta phải nhìn thấy sự vật với đôi mắt của người khác và đi đến một nhận thức về quan điểm của họ. Chúng ta phải quan tâm đến chính niềm tin của chúng ta, và đồng thời chúng ta phải nhận thức làm sao người khác—trong trường hợp của chúng ta bên ngoài Kitô giáo—được hình thành và giáo dục trong chính niềm tin của họ. Chúng ta phải thực hiện điều đó trong quan điểm của tình hình chung trên thế giới.
Sự thực, mời gọi các thành viên của các tôn giáo khác nhau đến một cuộc trò chuyện chung ngày nay là quan trọng vô cùng bởi vì có rất nhiều vấn đề trong xã hội bên trong và bên ngoài tôn giáo cần có các giải pháp. Điều đó có nghĩa, đối thoại đòi buộc ngày nay chẳng cách nào giới hạn chỉ với chúng ta và các chủ đề liên đức tin của chúng ta; đối thoại được kêu mời ngày nay phải là một đóng góp cho thế giới trong việc tìm kiếm hòa bình và công lí, giải phóng và cứu độ, và điều đó rất cụ thể. Nó phải là một cuộc đối thoại kém phần lí thuyết hơn là thực hành. Jon Sobrino và các người khác diễn dạt sự thách thức mà chúng ta đang đối mặt bằng cách kêu gọi sự chú ý của chúng ta đến người nghèo khó và bị áp bức trên thế giới, đến với vô số dân tộc không một tiếng nói thế nào để chúng ta học biết cách nhìn thấy sự vật với đôi mắt của các nạn nhân.
Cuốn sách gồm năm chương đề cập đến vừa Kitô giáo vừa cách xử lí các tôn giáo khác. Chương 1 và 3 nhấn mạnh đến sự kiện rằng đức tin Kitô giáo bắt đầu và sống động từ và với Đức Giêsu xứ Nazareth; các chương 2 và 4 khảo sát lại thái độ của chúng ta đối với các tôn giáo khác. Cuối cùng trong chương 5, chúng ta tập trung vào đối thoại liên đức tin trong các quan điểm khác nhau của nó.
Chương 1: “Chính tại Antioch” (It was in Antioch), như chúng ta biết đến từ Công vụ các Tông đồ 11, 26, “mà các môn đồ lần đầu tiên được gọi là Kitô hữu.” Họ là các người đi theo “Con Đường” (the “Way”) (Cv. 9, 2; cũng xem 18, 26; 19, 9-23; 22, 4; 24, 14-22); họ là các người đi theo “con đường của Đức Kitô.” Thực sự, từ ngữ “Kitô” hàm ý sự tuyên xưng của Phêrô, “Thầy là Đấng Messiah” (Mc. 8, 29), nó là sự tuyên xưng rằng họ—các tông đồ—đã tìm thấy Đấng Messiah, theo tiếng Hilạp: Đấng “Kitô.” Người nào nói về Kitô giáo mà không quay đến vị sáng lập nó, Giêsu Đấng Kitô, và phương cách của Người về cuộc sống và sự chết, đã không nhận thức được là một Kitô hữu có ý nghĩa gì.
Chương 2: Trong đề cập đến “các tôn giáo,” chúng ta phải khảo sát và điều chỉnh nhận thức của chúng ta về khái niệm căn bản. “Tôn giáo,” trước mọi sự, là một tập hợp các con người tìm kiếm sự hoàn thành cuộc sống của họ và thực hiện điều này theo quan điểm một con đường (a path) được cho thấy và được cống hiến cho họ. Từ đó, “đối thoại về các tôn giáo” là một tương tác giữa các con người, không phải giữa các cơ sở. Hiển nhiên, lịch sử của khái niệm về tôn giáo chứng tỏ rằng theo dòng thời gian, khái niệm đã được thay đổi đáng kể, và chúng ta sẽ thực hiện tốt đẹp nếu chúng ta không áp dụng nó theo một phương cách có phần chung chung (general) và chung chung (generic). Người nào đề cập đến các người tin tưởng vào một tôn giáo cụ thể, không thể làm ngơ các đặc điểm của nó.
Chương 3: Kitô giáo được tập chú và khuôn mặt lịch sử của Đức Giêsu xứ Nazareth và ý nghĩa của Người về sự hiện hữu của con người và sự cứu độ của loài người. Niềm tin này tìm thấy sự diễn đạt bó buộc của nó trong các giáo huấn của các Công đồng ban đầu tại Nicea (325), Constantinople (381), Ephesus (431) và Chalcedon(451): Đức Giêsu Kitô trong con người của Người là “Thiên Chúa đích thực và con người đích thực.” công thức luôn luôn bị hăm dọa theo một ý nghĩa song đôi: Hoặc nhân tính của Đức Giêsu hoặc—như trong thời đại chúng ta—thiên tính của Người gặp nguy hiểm hoặc thậm chí bị chối bỏ. Hơn nữa, người không phải Kitô hữu ngày nay (và thậm chí Kitô hữu) hỏi liệu sự thực toàn thể loài người đã được cứu độ nhờ Đức Giêsu Kitô như là Đấng trung gian duy nhất hay không. Do đó, chúng ta là tốt khi lại đề cập đến giáo huấn quan trọng này của Giáo hội.
Chương 4: Lịch sử thế giới là tổng cộng các lịch sử của tất cả các cá thể, tất cả các nhóm và cộng đoàn con người. nhưng nó cũng bao gồm lịch sử chung của loài người và thậm chí của vũ trụ trong các khía cạnh vũ trụ của nó. Trong tiến trình toàn cầu hóa, chúng ta trở nên ngày càng biết về tính cộng đồng của tiến trình này và về sự kiện rằng chúng ta tất cả đang đồng thuyền đồng hội thế nào để mọi người đóng góp vào lịch sử thế giới theo phương cách riêng của chính mình. Chúng ta thừa nhận các khía cạnh chung như đau khổ và tội lỗi, tiến bộ và thất bại, trông mong và thất vọng, hi vọng và hứa hẹn, nhưng cũng các kinh nghiệm về chữa lành và hòa giải, giải phóng và cứu độ, và nhiều người thậm chí nói về các kinh nghiệm với Thiên Chúa. Tất cả các kinh nghiệm này có liên quan của chúng đến lịch sử của loài người như thế. Câu hỏi là: Con thuyền loài người đang hướng về đâu? Và ai là Chúa? Câu trả lời của các tôn giáo là gì?
Chương 5: Trong thời đại chúng ta, chúng ta sống giữa Babel và Giêrusalem, giữa sự hỗn loạn các ngôn ngữ và kinh nghiệm rằng, dầu sao, người ta có thể hiểu lẫn nhau. Kinh nghiệm về chủ thuyết số nhiều có thể hoàn tất cả hai: Nó có thể dẫn đến các độc thoại liều lĩnh và như thế là hỏa ngục, nhưng nó cũng có thể đem đến sự phong phú và hoàn thành vui vẻ, và nó có thể giúp đỡ và cứu vớt. Tất cả điều này tùy thuộc vào người đóng góp những gì. Đối thoại, trò chuyện và hợp tác, trong lời nói và việc làm, là cơ may to lớn của loài người. Vì trong toàn bộ giới hạn của mình, con người mở ra cho không giới hạn, cho điều không thể hiểu được, cho điều “bên kia,” cho sự siêu việt vô tận và huyền nhiệm trong và đàng sau mọi sự vật—trong nhiều tôn giáo, người ta nói: họ cởi mở ra đến với Thiên Chúa. Các tôn giáo mời gọi người ta chia sẻ các niềm tin quí báu nhất của họ với người khác. Do đó, đối thoại liên đức tin trong chiều sâu thẳm của nó kéo theo tâm linh và việc chia sẻ hoàn toàn bao gồm, sự cởi mở qua lại và việc tuyên xưng đức tin tích cực bằng lời nói và việc làm; nói cho cùng, chính tự trong nó là một lời mời gọi uy lực. Nếu nhan đề cuốn sách có thể đưa ra một số tác nhân kích thích cho một cuộc đối thoại tích cực như vậy, nó đã làm trọn mục đích của nó.
Về các phụ lục
Như là các phụ lục, được thêm vào (1) một bản từ ngữ chìa khóa tóm tắt các chủ đề chính nên được xem xét trong nền thần học về các tôn giáo, (2) một ít bản văn gợi hứng chọn lựa từ các Kinh thánh và bài viết của các tôn giáo khác, (3) một chú giải chuyên ngữ (glossary) gồm các khái niệm căn bản được sử dụng trong sách, (4) một bản liệt kê các bài đọc tiếng Anh chọn lọc trong lãnh vực của nền thần học tôn giáo và đối thoại liên tôn giáo.
———
MỤC LỤC
– VÀI LỜI GIỚI THIỆU CỦA NGƯỜI DỊCH
– GỬI NGƯỜI ĐỌC
+ Chương 1: THAY VÌ KITÔ GIÁO: ĐỨC GIÊSU ĐẤNG KITÔ
+ Chương 2: TÔN GIÁO – CÁC TÔN GIÁO – TÍNH TÔN GIÁO
+ Chương 3: 1550 NĂM SAU CHALCEDON
+ Chương 4: LỊCH SỬ THẾ GIỚI
+ Chương 5: ĐỐI THOẠI VÀ TUYÊN XƯNG
– Phụ lục 1: TỪ KHÓA: THẦN HỌC VỀ CÁC TÔN GIÁO
– Phụ lục 2: CÁC BẢN VĂN CĂN BẢN
– CHÚ GIẢI CHUYÊN NGỮ
