✉ hylecuoicung@gmail.comTrang thông tin Huấn Giáo

Tìm hiểu Về Năm Thánh Và Năm Thánh Lòng Thương Xót

Theo truyền thống Công Giáo bắt nguồn từ thời Cựu Ước, Năm Thánh (Holy Year) là một biến cố hay nói đúng hơn là một thời kỳ hồng ân mà qua đó Thiên Chúa ban ơn đặc biệt hơn khi con người mở lòng để canh tân và thống hối.

Anh Nguyễn Tổng Hợp

 

I. NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA NĂM THÁNH

Theo truyền thống Công Giáo bắt nguồn từ thời Cựu Ước, Năm Thánh (Holy Year) là một biến cố hay nói đúng hơn là một thời kỳ hồng ân mà qua đó Thiên Chúa ban ơn đặc biệt hơn khi con người mở lòng để canh tân và thống hối. Theo nguyên gốc Latin Annum Jubilaei mà nhiều nhà chú giải Kinh Thánh giải thích là bắt nguồn từ tiếng Do Thái Jôbel (“thổi kèn tù và báo hiệu năm đại xá”), Năm Thánh hiểu được là Năm Hồng Ân hay Ðại Xá, mà theo Luật Môsê, cứ mỗi năm thứ 7, đất đai phải được nghỉ ngơi và nô lệ được trả tự do, nợ nần được tha, đồng thời dân chúng phải sống trong đoàn kết, yêu thương, hòa giải với anh chị em và kẻ thù: “Các ngươi sẽ công bố năm thứ năm mươi là Năm Thánh và sẽ tuyên cáo trong xứ lệnh ân xá cho mọi người sống tại đó. Đối với (các) ngươi, đó là thời kỳ toàn xá: mỗi người trong các ngươi sẽ trở về phần sở hữu của mình, mỗi người sẽ trở về dòng họ của mình. Đối với các ngươi, năm thứ năm mươi sẽ là thời kỳ toàn xá: các ngươi không được gieo, không được gặt lúa tự nhiên mọc, không được hái trong vườn nho không cắt tỉa. Vì đó là thời kỳ toàn xá, một Năm Thánh đối với các ngươi, các ngươi sẽ ăn hoa lợi của đồng ruộng. Năm toàn xá đó, mỗi người trong các ngươi sẽ trở về phần sở hữu của mình” (Lv 25,10-13; xt. Xh 23,10-11; Lv 25,1-28; Ðnl 15,1-6). Tất cả những việc làm này là nhằm để tôn vinh Thiên Chúa. Cứ sau 49 năm thì toàn dân Do Thái phải mừng năm thứ 50 một cách trọng thể. Rõ ràng, truyền thống Năm Hồng Ân này là sự mở rộng luật Sabbát của người Do thái là trong một tuần 7 ngày, sau 6 ngày làm việc phải có 1 ngày nghỉ ngơi để thờ phượng Thiên Chúa.

Mặc dầu đi theo truyền thống của Cựu Ước, Kitô hữu đón mừng Năm Thánh với một chiều kích trọn vẹn hơn bởi vì Thiên Chúa đã thi ân cho nhân loại trong Ðức Giêsu, Ngôi Lời Nhập Thể. Chính việc Ðức Giêsu đến trong thế gian đã thực sự đem lại thời hồng phúc, thời cứu rỗi (Lc 4,16-30). Do đó, Năm Thánh là thời gian mà kẻ có tội hối cải được ban ơn tha thứ các hình phạt do tội gây ra, con người phải thống hối và canh tân cũng như hòa giải với Thiên Chúa và anh chị em. Ðể được hưởng những ơn lành Thiên Chúa ban cho trong Năm Thánh này, Kitô hữu phải nhận thức trước hết là Năm Thánh là nhằm thánh hóa cuộc sống, củng cố đức tin, tạo cơ hội thuận tiện để đem lại sự đoàn kết và hiệp thông huynh đệ trong lòng Giáo Hội và thế giới, và cổ võ tín hữu tuyên xưng đức Tin một cách chân thành và sống động hơn nơi Ðức Kitô, Ðấng Cứu Ðộ duy nhất của nhân loại. Trong Năm Thánh 2000, kỷ niệm việc nhập thể Giáng Sinh của Ðức Kitô cách hai ngàn năm,[1] là dịp Ðại Hồng Ân không chỉ cho Kitô hữu mà còn cho cả nhân loại với vai trò của Kitô giáo trong lịch sử 2000 năm qua của nhân loại.[2] Với Năm Thánh ngoại thường 2015, kỷ niệm 50 năm bế mạc Công Đồng Vatican II, Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi toàn thể Giáo Hội nhìn lại căn tính của mình: “Hội Thánh Công giáo muốn thể hiện chính mình như một người mẹ đầy yêu thương của tất cả mọi người, một người mẹ từ ái, nhẫn nại, luôn được thôi thúc bởi Lòng Thương Xót và nhân hậu đối với những người con đang xa rời mẹ”.[3] Muốn thế, Hội Thánh Hiền Thê phải chiêm ngắm và kết hợp thường xuyên với Đấng Phu Quân, là Dung mạo hữu hình của Thiên Chúa Toàn năng Giàu Lòng Thương Xót; Bởi Thiên Chúa tỏ lộ sự toàn năng của Ngài qua Lòng Thương Xót. “Thực thi Lòng Thương Xót là đặc điểm riêng của Thiên Chúa, và đó là cách thức đặc biệt để Ngài bày tỏ sự toàn năng của Ngài”.[4] “Chúng ta được kêu gọi để sống Lòng Thương Xót, vì Lòng Thương Xót được ban cho chúng ta trước. Việc tha thứ những xúc phạm là một thể hiện rõ ràng nhất của tình yêu thương xót, và đối với các Kitô hữu chúng ta, đây là một mệnh lệnh không thể bỏ qua”.[5]

II. NĂM THÁNH VỚI GIÁO HỘI

A. Các thể loại Năm Thánh

Năm Thánh có 2 loại: Thông thường và Ngoại thường.

– Năm Thánh thông thường được tổ chức lần đầu tiên năm 1300 và được quy định cứ 100 năm cử hành một lần, sau đó rút dần xuống còn 50 năm, 33 năm và 25 năm như hiện nay để mỗi người có thể được hưởng nhờ ân xá của Năm Thánh ít là một lần trong đời. Tính cho đến nay có tất cả 26 Năm Thánh thông thường. Ðại Năm Thánh 2000 được khai mạc vào đêm 24-12-1999 và bế mạc ngày 06-01-2001, là Năm Thánh thông thường gần nhất cho đến nay.

– Ngoài ra, nếu tính luôn Năm Thánh 2015, thì trong Giáo Hội còn có 3 Năm Thánh ngoại thường trong thế kỷ XX và XXI. Năm Thánh ngoại thường thứ nhất vào năm 1933 khi Ðức Thánh Cha Piô XI công bố kỷ niệm 1900 năm Ơn Cứu Ðộ được ban cho nhân loại qua sự chết và sống lại của Chúa Giêsu. Năm Thánh ngoại thường thứ hai là vào năm 1983 khi Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II mừng kỷ niệm 1950 năm Ðức Kitô tử nạn và phục sinh hầu đem ơn Cứu Rỗi. Và Năm Thánh ngoại thường lần thứ ba là năm 2015 khi Đức Thánh Cha Phanxicô công bố Năm Thánh Lòng Chúa Thương Xót qua “Tông thư Misericordiae Vultus”.

B. Các Năm Thánh trong lịch sử Giáo Hội

Sau đây là danh sách các Năm Thánh được ghi lại trong lịch sử:

1/. Năm 1300

Năm Thánh đầu tiên trong Hội Thánh được Ðức Thánh Cha Boniface VIII (1294-1303) thiết lập năm 1300. Ðầu thế kỷ mới đã thôi thúc nhiều tín hữu đến hành hương Roma để kính viếng Ðền Thờ Thánh Phêrô và Thánh tích khăn bà Vêrônica lau mặt Chúa Giêsu chịu thương khó. Làn sóng người hành hương đến Roma rất đông và theo lời yêu cầu của họ, Ðức Thánh Cha Boniface VIII quyết định ban hành ơn toàn xá trong Năm Thánh đầu tiên này và qui định cử hành Năm Thánh cứ mỗi 100 năm. Ðông đảo tín hữu đến hành hương Roma, viếng mộ các Thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô ở Ðền Thờ Thánh Phêrô và Phaolô.

2/. Năm 1350

Năm 1343, một đoàn đại biểu từ Roma đi Avignon (Pháp) gặp Ðức Thánh Cha Clemente VI (1342-1352) đang cư ngụ tại đây, để xin có một Năm Thánh đặc biệt vào năm 1350. Lời yêu cầu này dựa theo truyền thống của Do Thái giáo được ghi lại trong sách Lêvi, là cứ sau 49 năm thì năm thứ 50 là Năm Hồng Ân. Một lý do khác của việc phái đoàn Roma xin mở Năm Thánh, đó là thành phố Roma đang gặp khó khăn chồng chất do việc vắng mặt Giáo Hoàng quá lâu và họ hy vọng rằng biến cố Năm Thánh sẽ tạo một cơ hội thuận tiện cho Ðức Thánh Cha trở lại Roma. Ðức Thánh Cha Clemente VI đồng ý mở Năm Thánh 1350 và ban ơn toàn xá cho những tín hữu nào đến viếng mộ Thánh Phêrô và Phaolô cũng như viếng Ðền Thờ Gioan Laterano. Tuy nhiên, vì lý do chính trị, Ðức Thánh Cha không thể trở về Roma. Do đó, có thể nói rằng Năm Thánh 1350 là Năm Thánh không có Ðức Thánh Cha.

3/. Năm 1390

Ðược tổ chức dưới triều Ðức Thánh Cha Boniface IX (1389-1404). Thật ra, Năm Thánh này đã được vị tiền nhiệm là Ðức Thánh Cha Urbanô VI (1378-1389) công bố với ý định là: Năm Thánh mới sẽ cử hành cứ mỗi 33 năm, đánh dấu thời gian Chúa Giêsu sống trên thế gian. Vào dịp Năm Thánh 1390, Ðền Thờ Ðức Bà Cả ở Roma được ghi thêm vào danh sách các Ðền Thờ (cùng với các Ðền Thờ Thánh Phêrô, Thánh Phaolô, Gioan Laterano) khách hành hương phải kính viếng để được ơn toàn xá.

4/. Năm 1400

Cử hành dưới triều Ðức Thánh Cha Boniface IX (1389-1404) để cho các tín hữu hành hương về Roma dịp bước vào thế kỷ mới. Vào năm 1400, Giáo Hội vẫn còn trong thời kỳ phân ly, khi cùng một lúc có các Giáo Hoàng khác nhau cư ngụ ở Roma và Avignon (Pháp). Các tín hữu tại Pháp, Tây Ban Nha và Ý ở một số nơi đã không dự hành hương Năm Thánh đến Roma dịp này được, bởi vì bị các vua chúa đang có xung đột với Ðức Thánh Cha ngăn cấm. Dịp này, Ðức Thánh Cha Boniface IX đã thêm Nhà Thờ Thánh Laurenso ngoại thành, Thánh Maria ở Trastevere và Thánh Maria Rotonda vào danh sách 4 Ðền Thờ truyền thống (Đền Thờ Thánh Phêrô, Phaolô, Gioan Laterano, và Ðức Bà Cả) khách hành hương phải viếng để được ơn toàn xá. Năm Thánh 1400 cũng còn khởi đầu cho ý nghĩa hành hương tạ tội.

5/. Năm 1425

Ðức Thánh Cha Martino V (1417-1431) đã khai mạc Năm Thánh 1425 và bắt đầu truyền thống mở Cửa Thánh ở Ðền Thờ Thánh Gioan Laterano, Nhà thờ Chánh Tòa của Giáo phận Roma, mà sau này được Ðức Thánh Cha Alexandre VI (1492-1503) đổi thành truyền thống khai mạc Năm Thánh bằng việc mở Cửa Thánh ở Ðền Thờ Thánh Phêrô.

6/. Năm 1450

Nếu theo qui định của Ðức Thánh Cha Urbanô VI, Năm Thánh mới phải được tổ chức vào năm 1433,[6] nhưng điều này đã không thực hiện. Ðược mở ra dưới triều đại Ðức Thánh Cha Nicôla V (1447-1455), Năm Thánh 1450 được ghi nhận là một trong những Năm Thánh có nhiều người tham dự nhất trong lịch sử. Do số khách hành hương quá đông, đã xảy ra những vụ rối loạn trật tự công cộng và thiếu thốn vấn đề vệ sinh. Năm Thánh này còn được gọi là “Năm Thánh của những vị thánh”, bởi vì trong số khách hành hương đến Roma có những vị thánh tương lai như Thánh nữ Rita Cascia và Thánh Antôn thành Florence. Thánh Antôn thành Florence mô tả Năm Thánh 1450 như là “năm hoàng kim”, ý chỉ sự hiệp nhất mới được tái lập sau cuộc phân ly trong Giáo Hội Roma (1378-1417).

7/. Năm 1475

Theo qui định của Ðức Thánh Cha Phaolô II (1461-1471) trong một Tông sắc ban hành vào năm 1470: từ nay về sau, Năm Thánh sẽ được tổ chức cứ mỗi 25 năm và qui định này vẫn còn duy trì cho đến ngày nay đối với các Năm Thánh thường lệ. Năm Thánh thứ 7 vào năm 1475 như thế được tổ chức dưới triều Ðức Thánh Cha Sixtô IV (1471-1484). Ðể mọi tín hữu khắp nơi có thể qui tụ về Roma dự Năm Thánh 1475, Ðức Thánh Cha Sixtô IV đã đình chỉ ban hành ơn toàn xá ở những nơi khác trên thế giới trong suốt thời kỳ này. Sử dụng kỹ thuật in vừa được Johann Guttenberg phát minh, Ðức Thánh Cha đã cho in Sắc chỉ Năm Thánh, tập chỉ dẫn khách hành hương và kinh nguyện ở những nhà thờ. Cũng kể từ năm 1475, Năm Thánh được tổ chức cứ mỗi 25 năm. Ngoài ra, từ năm này trở đi, từ ngữ Năm Thánh (Holy Year) cũng được chính thức sử dụng cho đến ngày nay; trước đây những năm như thế gọi là Năm Hồng Ân hay Toàn Xá (Jubilee).

8/. Năm 1500

Vào ngày 24-12-1499, Ðức Thánh Cha Alexandre VI (1492-1503) đã long trọng khai mạc Năm Thánh bằng nghi thức mở Cửa Thánh ở Ðền Thờ Thánh Phêrô, bằng cách dùng một chiếc búa đập vào bức tường được xây lên che Cửa Thánh. Như thế, truyền thống mở Cửa Thánh ở Ðền Thánh Gioan Laterano chuyển qua mở Cửa Thánh Ðền Thờ Phêrô. Ngài cũng muốn mở Cửa Thánh cả 4 Ðền Thờ chính ở Roma (Thánh Phêrô, Thánh Phaolô, Gioan Laterano, Ðức Bà Cả). Kể từ lúc đó trở đi, việc đi qua Cửa Thánh các Ðền Thờ này trở thành một trong những biến cố quan trọng nhất của Năm Thánh. Việc mở Cửa Thánh nói lên chính Ðức Kitô là Cửa thật, và duy nhất qua đó con người mới có sự sống sung mãn.

9/. Năm 1525

Ðược cử hành dưới triều Ðức Thánh Cha Clemente VII (1523-1534) và trong hoàn cảnh xung đột về vấn đề tôn giáo với Martino Luther ở Ðức vào năm 1517, khi vị lãnh đạo tương lai của Tin Lành này đặt lại vấn đề ân xá mà phần nào đã bị các chức sắc trong Giáo Hội lạm dụng. Ðiều đó cũng dẫn đến việc duyệt xét việc ân xá, vốn là một trong những yếu tố căn bản của Năm Thánh.

10/. Năm 1550

Ðược Ðức Thánh Cha Julius III (1550-1555) khai mạc vào ngày 08-02-1550, khi được đắc cử Giáo Hoàng. Thật ra, vị tiền nhiệm là Ðức Thánh Cha Phaolô III (1534-1549) đã chuẩn bị Năm Thánh 1550, nhưng ngài lại qua đời vào ngày 10-11-1549. Vì Năm Thánh bị khai mạc trễ do cuộc bầu cử người kế vị Ðức Thánh Cha Phaolô III kéo dài, nên Năm Thánh 1550 được bế mạc vào Lễ Hiển Linh ngày 05-01-1551. Năm Thánh lần này mang ý nghĩa đặc biệt, bởi vì đây là một cơ hội cụ thể nhằm để canh tân đời sống được Công Đồng Trento (1543-1563) đã đề ra. Do đó, những khách hành hương, đặc biệt người nghèo, được tín hữu ở Roma tiếp đón niềm nở.

11/. Năm 1575

Ðược cử hành dưới triều đại Ðức Thánh Cha Gregorio XIII (1572-1585). Ðây là Năm Thánh đầu tiên được tổ chức sau Công Đồng Trento (1543-1563) nhằm thực hiện các cải cách trong Giáo Hội. Kể từ 1573, Tòa Thánh có lệnh cho các chủ quán trọ không được tăng giá. Một số con đường mới được làm để tạo điều kiện dễ dàng cho khách hành hương. Có trên 300.000 người từ khắp Châu Âu về Roma trong Năm Thánh 1575.

12/. Năm 1600

Dưới triều đại Đức Thánh Cha Clemente VIII (1592-1605), Năm Thánh 1600 được xem là một trong những Năm Thánh thành công nhất về số người tham dự, cũng như về lòng đạo đức của tín hữu, với hơn 300.000 khách hành hương từ khắp Châu Âu qui tụ về Roma. Những chỗ trọ do các hiệp hội xây tại Roma giúp giải quyết vấn đề ăn ở của khách hành hương mà đại đa số là người nghèo không có đủ tiền trả khách sạn.

13/. Năm 1625

Ðược tổ chức dưới triều đại Ðức Thánh Cha Urbanô VIII (1623-1644). Trong tình trạng biến loạn lúc bấy giờ tại Châu Âu do Cuộc Chiến 30 năm giữa Công Giáo và Tin Lành. Ðức Thánh Cha Urbanô VIII đã ra lệnh cấm mang vũ khí và bạo động tại Roma. Ðồng thời để ngăn ngừa một trận dịch ở miền Nam nước Ý có thể lan tràn đến Roma, Ðức Thánh Cha Urbanô VIII cũng đã thay thế việc viếng Ðền Thờ Thánh Phaolô ngoại thành bằng việc viếng Nhà Thờ Thánh Maria ở Trastevere. Như thế, đây là lần đầu tiên, những ai vì bệnh hoạn hay tù đày vẫn có thể hưởng hiệu quả thiêng liêng của Năm Thánh mà không phải đến Roma. Biến cố này cũng thay đổi sâu xa ý niệm về ân xá mà ban đầu liên kết với việc hành hương Roma.

14/. Năm 1650

Dưới triều đại Đức Thánh Cha Innocento X (1644-1655) và sau khi Cuộc Chiến 30 năm tàn phá Châu Âu đã kết thúc.

15/. Năm 1675

Dưới triều đại Đức Thánh Cha Clemente X (1670-1676) với việc tín hữu hành hương lần đầu tiên được vào trong Quảng Trường Thánh Phêrô. Trước khi cử hành Năm Thánh 1675, Ðức Thánh Cha Clemente X đã phong thánh cho vị thánh nữ đầu tiên của Nam Mỹ là Thánh Rose Lima; đồng thời, ngài cũng thiết lập Giáo phận đầu tiên của Bắc Mỹ là Giáo phận Québec. Vào thứ Năm Tuần Thánh của Năm Thánh 1675, Ðức Thánh Cha Clemente X rửa chân cho 12 nông dân và mở tiệc cho 10.000 người ăn.

16/. Năm 1700

Ðược khai mạc dưới triều đại Ðức Thánh Cha Innocente XII (1691-1700), nhưng vì qua đời, nên đã được Ðức Thánh Cha Clemente XI (1700-1721) kế vị bế mạc. Lần đầu tiên trong lịch sử, Năm Thánh có vị Giáo Hoàng qua đời. Nhiều người tiếng tăm đến hành hương Roma, như Hoàng hậu Maria Cristina của Balan, đi chân không vào Ðền Thờ Thánh Phêrô và mặc áo nhặm viếng tất cả các nhà thờ Công Giáo ở Roma. Theo lời mô tả của một khách du lịch người Anh lúc bấy giờ, về lòng đạo đức của người hành hương thì: “Người ta tiếp tục qua Cửa Thánh Ðền Thờ Thánh Phêrô bằng cách quỳ gối lết, và họ đông đến nỗi tôi không thể nào đi vào trong được”.

17/. Năm 1725

Ðược cử hành dưới triều đại Đức Thánh Cha Benedicto XIII (1724-1758). Ngài thường để nhiều ngày cầu nguyện tại Nhà thờ Thánh Maria Minerva, cũng như triệu tập nhiều vị giảng thuyết nổi tiếng đến các nhà thờ tại Roma.

18/. Năm 1750

Dưới triều Ðức Thánh Cha Benedicto XIV (1740-1758), Năm Thánh 1750 được ngài nhấn mạnh đến ý nghĩa ăn năn thống hối và đền tội, và giá trị hành hương nằm ở chỗ chiến thắng tội lỗi. Thánh Leonado da Porto Maurizio đã cho dựng lên ở giữa hí trường Coliseum ở Roma một cây thánh giá thật lớn ở giữa, với 14 nhà nguyện để làm 14 Chặng đường Thánh giá.

19/. Năm 1775

Ðược Ðức Thánh Cha Clemente XIV (1769-1774) chuẩn bị với Tông sắc L’Autore Della Nostra Vita (“Tác Giả sự sống của chúng ta”) lần đầu tiên được viết bằng tiếng Ý.[7] Ðang khi trong giai đoạn chuẩn bị mở Năm Thánh 1775 bằng những loạt bài giảng, rước kiệu, và giảng đại phúc ở một số công viên tại Roma, Ðức Thánh Cha Clemente XIV qua đời qua đời vào ngày 22-09-1774. Vì thế, Năm Thánh lần thứ 19 được Ðức Thánh Cha Piô VI (1775-1779) khai mạc. Năm Thánh 1775 cũng là Năm Thánh ngắn nhất trong lịch sử.

20/. Năm 1825

Ðúng ra Năm Thánh thứ 20 phải được tổ chức vào năm 1800. Tuy nhiên, do tình hình Châu Âu lúc bấy giờ rối ren sau cuộc Cách mạng Pháp 1789, nên đã không tổ chức được. Đặc biệt vào năm 1797, quân đội Pháp chiếm đóng Roma, và Ðức Thánh Cha Piô VI (1775-1799) đã phải chết trong cảnh lưu đày ở Pháp, rồi Ðức Thánh Cha Piô VII (1800-1823) cũng bị Hoàng đế Napoléon bắt cầm tù ở Pháp từ 1809-1814.

Năm 1825, Năm Thánh lần thứ 20 được Ðức Thánh Cha Leo XII (1823-1829) khai mạc, mặc dù có rất nhiều khó khăn như biên giới giữa các nước bị đóng vì những phong trào cách mạng có thể nổi lên. Năm Thánh 1825 là Năm Thánh duy nhất được mở cho mọi tín hữu trong thế kỷ 19 và có trên 500.000 người hành hương Roma dịp này.

21/. Năm 1875

Năm Thánh thứ 21 được cử hành vào năm 1850 dưới triều đại Ðức Thánh Cha Piô IX (1846-1878), nhưng vì những biến cố chính trị tại Ý nên đã không cho phép thực hiện rầm rộ. Kể từ năm 1870, chính quyền nước Ý sáp nhập lãnh thổ Tòa Thánh, và Ðức Thánh Cha tuyên bố bị cầm tù trong Ðiện Vatican. Do đó, vào năm 1875, Cửa Thánh Ðền Thờ Thánh Phêrô vẫn không được mở, mặc dù Ðức Thánh Cha Piô IX vẫn tổ chức một cách đơn sơ Năm Thánh với giáo sĩ tại Roma mà thôi.

22/. Năm 1900

Năm Thánh lần thứ 22 được Ðức Thánh Cha Leo XIII (1878-1903) khai mạc vào ngày 24-12-1900, sau 75 năm Cửa Thánh bị đóng. Năm Thánh 1900 ngoài việc đem lại ơn ích thiêng liêng cho tín hữu, còn giúp nêu lên tình trạng bất công của xã hội lúc bấy giờ, cũng như phục hồi vai trò cần thiết của Giáo Hội và Ðức Thánh Cha trong thế giới. Việc chuẩn bị và tổ chức lần đầu tiên được sự hỗ trợ của chính quyền Ý. Ðể đánh dấu Năm Thánh đầu thế kỷ XX, Ðức Thánh Cha đã tôn phong 6 vị chân phước và 2 vị thánh.[8]

23/. Năm 1925

Năm Thánh 1925 dưới thời Ðức Thánh Cha Piô XI (1922-1939). Năm Thánh này có thể được gọi là “Năm Thánh Hòa Bình” nhằm để nói đến bầu khí an lành giữa Giáo Hội và Quốc gia Ý. Do triều đại Ðức Thánh Cha Piô XI mang đặc điểm truyền giáo, được biểu hiện qua việc ngài là vị Giáo Hoàng đầu tiên tấn phong các Ðức Giám mục Trung Hoa, Năm Thánh 1925 cũng có tính cách truyền giáo. Năm Thánh này còn chứng kiến việc Tuyên thánh của Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, Thánh Gioan Vianney, và Thánh Gioan Eude. Có khoảng 500.000 người đến Roma năm này.

24/. Năm 1933: Năm Thánh ngoại thường

Vào ngày 24-12-1932, Ðức Thánh Cha Piô XI làm mọi người ngạc nhiên khi ngài công bố mở Năm Thánh vào năm 1933, gọi là Năm Thánh Cứu Ðộ, để kỷ niệm biến cố Chúa Giêsu chịu chết cho nhân, loại hầu đem ơn cứu rỗi cách 1900 năm về trước. Đã có vài thay đổi trong Nghi thức phụng vụ của Năm Thánh này, như việc mở Cửa Thánh được ấn định vào Chúa Nhật Lễ Lá chứ không phải vào Ðêm Vọng Giáng Sinh, và việc đóng Cửa Thánh vào thứ Hai Tuần Thánh năm sau.

25/. Năm 1950

Năm Thánh 1950 do Ðức Thánh Cha Piô XII (1939-1958) khai mở sau những đau thương tàn khốc của Thế Chiến thứ II (1939-1945). Hòa bình là sứ điệp của Năm Thánh 1950. Châu Âu bị phân chia làm 2 khối Tự do và Cộng sản, nên những người Công Giáo tại Cộng Sản Ðông Âu không thể đến Roma dự Năm Thánh. Cũng trong Năm Thánh này (01-11-1950), Ðức Thánh Cha công bố tín điều Ðức Mẹ Hồn Xác Về Trời ở Quảng Trường Thánh Phêrô với sự hiện diện đông đảo của khoảng 500.000 tín hữu và 622 giám mục.

26/. Năm 1975

Ðược mở ra dưới triều Ðức Thánh Cha Phaolô VI (1963-1978), Năm Thánh này mang ý nghĩa Canh Tân và Hòa Giải, như được trình bày trong Tông huấn Gaudete in Domino (“Hãy Vui Mừng Trong Chúa”) của ngài. Điểm nổi bật của Năm Thánh 1975 là cử hành trước tại các Giáo Hội địa phương từ lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống 10-06-1973, và kết thúc vào lễ Giáng Sinh 1974, để từ ngày này tập trung cử hành tại Roma. Năm Thánh 1975 là Năm Thánh cuối cùng trong lịch sử Giáo Hội mà một vị Giáo Hoàng khai mở bằng cách đập búa vào tường che Cửa Thánh ở Ðền Thờ Thánh Phêrô. Khi kết thúc Năm Thánh 1975, Ðức Thánh Cha Phaolô VI đã không còn tiếp tục truyền thống xây tường gạch che phủ Cửa Thánh nữa.

27/. Năm 1983: Năm Thánh ngoại thường

Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II công bố Tông sắc Aperite Portas Redemptori (“Hãy Mở Cửa Cho Ðấng Cứu Thế”) vào ngày Lễ Hiển Linh 06-01-1983, để mừng Năm Thánh 1983 đánh dấu biến cố Ðức Giêsu đã chết cho nhân loại cách 1950 năm trước đó. Ðây là Năm Thánh ngoại thường như Năm Thánh 1933. Năm Thánh 1983 – khai mạc ngày 25-03-1983 và kết thúc ngày 22-04-1984 – cũng được mừng nhằm chuẩn bị Năm Thánh 2000 sắp đến.

28/. Năm 2000

Hướng đến Thiên Niên Kỷ thứ III sắp đến và đánh dấu 2.000 năm biến cố Con Thiên Chúa xuống thế làm người, Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã ban hành Tông thư Tertio Millennio Adveniente (“Ngàn Năm Thứ Ba Đang Tới”) từ năm 1994, để kêu gọi mọi người chuẩn bị tâm hồn để đón nhận ân sủng cao quý Thiên Chúa ban cho trong Đại Năm Thánh 2000. Ngoài ra, trong ba năm chuẩn bị gần (1997, 1998, 1999), các tín hữu cũng được mời gọi học hỏi các chủ đề về: “Chúa Con”, “Chúa Thánh Thần” và “Chúa Cha”. Vào ngày 29-11-1998, tức Chúa Nhật I Mùa Vọng, Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã ban hành Tông sắc Incarnationis Mysterium (“Mầu Nhiệm Nhập Thể”), chính thức công bố sẽ mở Năm Thánh 2000 bắt đầu vào Ðêm Vọng Giáng Sinh 24-12-1999 và kết thúc vào ngày Lễ Hiển Linh 06-01-2001. Năm Thánh được cử hành cùng lúc tại Roma và các Giáo Hội địa phương. Chủ đề của Năm Thánh 2000 là “Thiên Chúa Ba Ngôi, Bí Tích Thánh Thể và sự hiệp nhất”. Năm Thánh 2000 là Năm Thánh đầu tiên mà chính Đức Thánh Cha mở Cửa Thánh cả bốn Đại Vương Cung Thánh Đường tại Roma: Ðền Thờ Thánh Phêrô (Lễ Ðêm 24-12-1999), Ðền Thờ Thánh Gioan Laterano (Lễ Giáng Sinh 25-12-1999), Ðền Thờ Ðức Bà Cả (Lễ Ðức Maria, Mẹ Thiên Chúa, 01-01-2000), Ðền Thờ Thánh Phaolô Ngoại Thành (bắt đầu Tuần cầu nguyện hiệp nhất Kitô hữu, 18-01-2000).

29/. Năm 2015: Năm Thánh ngoại thường

Qua Tông thư Misericordiae Vultus (Khuôn Mặc Xót Thương), ngày 11-04-2015, Đức Thánh Cha Phanxicô công bố Năm Thánh về Lòng Thương Xót, từ 08-12-2015 đến 20-11-2016. Năm Thánh 2015 ghi dấu 50 năm bế mạc Công Đồng Vatican II.

III. Ý NGHĨA NĂM THÁNH LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA[9]

Tông sắc Misericordiae Vultus – Khuôn mặt xót thương, đã được Đức Thánh Cha Phanxicô ban hành để khai mở Năm Thánh Lòng Thương Xót Chúa. Tông sắc này gồm 25 số, có thể tạm chia nhỏ làm 3 phần.

Phần 1. Ý niệm về Lòng Thương Xót (số 1-12);

phần 2. Sống Năm Thánh Lòng Thương Xót (số 13-18);

phần 3. Viễn tượng của Năm Thánh Lòng Thương Xót (số 19-25).

1. Ý niệm về Lòng Thương Xót

Trước hết, cần phải xác định, Lòng Thương Xót không phải là một ý niệm trừu tượng mà là một khuôn mặt sống động để chúng ta nhận biết, chiêm ngưỡng và tôn thờ. Đức Thánh Cha Phanxicô mô tả điểm độc sáng của Lòng Thương Xót, hiển tỏ nơi dung nhan của Chúa Kitô. Thật vậy, mở đầu Tông sắc, Đức Thánh Cha Phanxicô khẳng định rằng, Chúa Giêsu Kitô là khuôn mặt Lòng Thương Xót của Chúa Cha.

Ngay từ buổi đầu của công cuộc tạo dựng, Lòng Thương Xót đã là từ then chốt nói lên tác động của Thiên Chúa đối với nhân loại. Kinh Thánh hé mở cho chúng ta thấy không gì có thể so sánh với tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta. Tình yêu đó đã trở nên hữu hình, để chúng ta có thể cảm nghiệm và đụng chạm tới. Khởi đi từ Chúa Cha là nguồn mạch xót thương, Lòng Thương Xót của Chúa tuôn trào xuống nhân loại, mặc cho nhân loại thờ ơ, bất trung và vô ơn với Thiên Chúa. Cảm nhân tình yêu nhân hậu của Thiên Chúa dành cho nhân loại, chúng ta cũng phải biết xót thương nhau, như Thiên Chúa đã xót thương chúng ta. Chính vì thế, khẩu hiệu của Năm Thánh lòng xót thương là: Hãy có Lòng Thương Xót như Thiên Chúa Cha.

Trên chính nên tảng xót thương này, tất cả các hoạt động mục vụ của Giáo Hội phải được thực hiện trong sự dịu dàng; phải diễn tả trong từng lời giảng, từng chứng tá Lòng Thương Xót của Chúa. Con người thời nay sống với nhau thường theo lẽ công bằng, ít nghĩ đến xót thương; chính vì thế đã đến lúc Giáo Hội phải công bố về sự tha thứ là, sức mạnh phục sinh trong đời sống mới, gánh lấy yếu đuối và khó khăn của anh chị em mình.[10] Sự khả tín của Giáo Hội phải được nhìn thấy trong cách thức Giáo Hội thể hiện tình yêu thương và lòng trắc ẩn.

Đức Thánh Cha Phanxicô không ngần ngại nhận định rằng xã hội ngày nay, trong mội trường văn hóa đương đại này, con người ngày càng quên dần Lòng Thương Xót của Chúa. Thực ra, điều này Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nhấn mạnh trong Thông điệp Dives in Misericordia (Thiên Chúa Giàu Lòng Thương Xót) với những lời lẽ mạnh mẽ:

Có lẽ là hơn bao giờ hết, não trạng của con người ngày nay xem ra muốn chống lại một Thiên Chúa của Lòng Thương Xót, và trong thực tế có xu hướng muốn loại ra khỏi cuộc sống và triệt hạ khỏi trái tim con người những ý tưởng của lòng xót thương. Từ ngữ và khái niệm‚ “thương xót” dường như gây xao xuyến trong con người, mà nhờ vào sự phát triển to lớn chưa từng có trong lịch sử của khoa học và kỹ thuật đã trở thành chủ nhân của trái đất, đã chinh phục và thống trị nó (x. St 01:28). Sự thống trị trái đất này, đôi khi được hiểu một cách phiến diện và hời hợt, dường như không còn chỗ cho Lòng Thương Xót.[11]

Trước thực trạng đau lòng này, cũng trong Thông điệp Dives in Misericordia, Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã thúc đẩy việc loan báo khẩn cấp hơn và đưa ra những chứng tá Lòng Thương Xót cho thế giới:

Xuất phát từ tình yêu dành cho con người, cho tất cả những gì là nhân bản và những gì, theo trực giác của nhiều người đương thời với chúng ta, là đang bị đe dọa bởi một mối nguy hiểm lớn lao. Mầu nhiệm của Chúa Kitô… buộc tôi phải rao giảng Lòng Thương Xót như tình yêu từ bi của Thiên Chúa, đã được mạc khải trong cùng một mầu nhiệm của Chúa Kitô. Mầu nhiệm ấy cũng buộc tôi phải trông cậy và khẩn cầu lòng xót thương trong giai đoạn khó khăn, và quan trọng này trong lịch sử Giáo Hội và thế giới.[12]

Đức Thánh Cha Phanxicô nhận xét rằng giáo huấn của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II về lòng xót thương thật thích hợp hơn hơn bao giờ hết và đáng được đề cao một lần nữa trong Năm Thánh này.

Dựa vào những mặc khải của Thánh Kinh, khởi đi từ những trang Cựu ước, Đức Thánh Cha Phanxicô cho thấy Lòng Thương Xót đã được diễn tả bằng những hành vi cụ thể (x. Tv 145, 7-9) qua những sắc thái đa dạng của ngôn từ: kiên nhẫn, yêu mến, khoan hồng, tha thứ,.v.v…[13]

Điệp khúc “Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” được cất lên xuyên suốt Thánh Vịnh 135 như một cảm nhận đức tin, một lời tuyên tín sống động về tình yêu Thiên Chúa.

Sang thời Tân ước, khuôn mặt Lòng Xót Thương của Chúa Giêsu chính là tình yêu của cả Ba Ngôi, là tình yêu viên mãn, hữu hình và chạm tới được bởi vì chính Ngôi Lời đã làm người và đã diễn tả tình yêu tuyệt vời qua cái chết và sự phục sinh để cứu độ chúng ta. Vì thế, “trong Người, tất cả đều diễn tả Lòng Thương Xót”.[14]

Quả vậy, trong Tin mừng, Lòng Thương Xót thể hiện cụ thể qua việc Chúa Giêsu chữa bệnh, trừ quỷ, cho ăn, phục sinh kẻ chết, chọn các Tông đồ… Lòng Thương Xót đó ra như ta có thể sờ chạm được qua các dụ ngôn tuyệt vời của Thánh Luca (x. Lc 15), Lòng Thương Xót như người đàn bà tìm đồng bạc mất, như mục tử tìm con chiên lạc, như người cha ngày đêm ngong ngóng đứa con đi hoang trở về… Để tóm kết, xin trích một tâm tình sâu sắc trong Lời nguyện nhập lễ Chúa nhật XXVI Thường Niên: “Lạy Chúa, khi Chúa thương xót và thứ tha, chính là lúc Chúa biểu lộ quyền năng cách tỏ tường hơn cả”. Quả như thánh Phaolô cảm nhận: “Quyền năng Chúa biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối” (2 Cr 12,9).

2. Sống Năm Thánh Lòng Thương Xót

Chúng ta được mời gọi sống Năm Thánh Lòng Thương Xót trong ánh sáng lời Chúa: Hãy có lòng xót thương như Chúa Cha. Giáo huấn của Chúa Giêsu thật sống động: “Hãy thương xót như Cha các ngươi có Lòng Thương Xót” (Lc 6:36). Nơi Lòng Thương Xót, chúng ta tìm thấy bằng chứng về cách thức Thiên Chúa yêu thương chúng ta. Ngay cả Con Một, Ngài cũng chẳng tiếc, Ngài trao ban tất cả cho chúng ta.

Trong Năm Thánh này, hành hương là một trong những việc làm ý nghĩa. Khi hành hương qua Cửa Thánh, chúng ta được mời gọi sám hối để Lòng Thương Xót Chúa bao bọc và để có lòng thương đối với người khác như Chúa Cha đối xử với chúng ta.[15]

Bên cạnh việc hành hương, chúng ta còn phải thể hiện Lòng Thương Xót một cách cụ thể. Ước muốn cháy bỏng của Đức Thánh Cha là trong Năm Thánh này, chúng ta hãy thể hiện Lòng Thương Xót một cách cụ thể: cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc, cho khách đỗ nhà, viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc, và chôn xác kẻ chết; về mặt thiêng liêng: hãy lấy lời lành mà khuyên người, mở dậy kẻ mê muội, yên ủi kẻ âu lo, răn bảo kẻ có tội, tha kẻ dể ta, nhịn kẻ mất lòng ta, cũng như cầu cho kẻ sống và kẻ chết.

Nếu như thánh Luca ghi lại lời công bố của Chúa Giêsu vào ngày Sabát ở Hội đường Nagiarét, đoạn Sách Tiên Tri Isaia: “Thần khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, sai tôi đi báo Tin mừng cho kẻ nghèo hèn, băng bó những tấm lòng tan nát, công bố lệnh ân xá cho kẻ bị giam cầm, ngày phóng thích cho những tù nhân, công bố một năm hồng ân của Ðức Chúa” (Is 61: 1-2); thì quả thật, Năm Thánh Lòng Thương Xót, chính là “năm hồng ân của Ðức Chúa” dành cho chúng ta vậy. Lời rao giảng của Chúa Giêsu nay trở nên hữu hình trong lời đáp trả đức tin của các Kitô hữu ngang qua những chứng tá về đức ái.

Bên cạnh những chứng từ đức ái, mùa Chay năm nay sẽ là một thời điểm quý báu, để chúng ta giao hòa với Chúa và với anh chị em mình qua bí tích Hòa Giải. Quả thật, tái khám phá vẻ đẹp của bí tích Hòa Giải, cũng là tái khám phá dung mạo lòng xót thương của Chúa. Chúng ta hãy đặt bí tích Hòa Giải ở trung tâm sáng kiến “24 giờ cho Chúa”, một lần nữa sao cho bí tích này giúp mọi người chạm vào sự hùng vĩ của Lòng Thương Xót Chúa với những đôi tay của riêng họ. Với mỗi hối nhân, bí tích này sẽ là nguồn mạch của bình an nội tâm thật sự.

Cũng trong dịp mùa Chay của Năm Thánh này, Đức Thánh Cha sẽ gửi các Thừa Sai của Lòng Thương Xót đến với mọi thành phần dân Chúa, với năng quyền tha thứ cả những tội dành quyền giải cho Tòa Thánh, để hòa giải mọi tội nhân với Chúa, hầu dân Chúa có thể bước vào sự phong phú sâu xa của mầu nhiệm xót thương. Đây là dịp thuận tiện các tín hữu được mời gọi quay lại “gần ngai Thiên Chúa là nguồn ân sủng, để được xót thương và tìm thấy ân sủng” (Dt 4:16). Không chỉ là các Thừa sai của Lòng Thương Xót, Đức Thánh Cha còn muốn khắp nơi và ở mọi hoàn cảnh, các linh mục luôn là dấu chỉ trước tiên của Lòng Thương Xót.[16]

3. Viễn tượng Năm Thánh Lòng Thương Xót

Đức Thánh Cha Phanxicô cầu mong thông điệp của Lòng Thương Xót này đến được với tất cả mọi người, và không một ai có thể thờ ơ với lời mời gọi trải nghiệm Lòng Thương Xót của Chúa. Cách riêng, Đức Thánh Cha hướng lời mời hoán cải đến những ai có những hành vi đang làm họ xa cách với ân sủng của Thiên Chúa. Đặc biệt, ngài nghĩ đến những người nam nữ thuộc về các tổ chức tội phạm. Vì thiện ích của họ, ngài mong muốn họ thay đổi cuộc sống mình. Lời mời gọi này cũng được gởi đến những ai trực tiếp hay gián tiếp dính líu vào tham nhũng. Vết thương mưng mủ vi phạm đến đức công bình này là một tội nghiêm trọng đang kêu thấu đến trời cao, đang đe dọa chính nền tảng của cuộc sống cá nhân và xã hội. Chúng ta không thể hướng đến tương lai với niềm hy vọng; và những người nghèo, những kẻ yếu thế tiếp tục bị chà đạp khi tệ nam tham những này tiếp tục diễn ra.

Trong Năm Thánh Lòng Thương Xót này, Đức Thánh Cha mở rộng việc ban các ân xá; bởi lẽ sự tha thứ của Thiên Chúa không có giới hạn, Người không bao giờ mệt mỏi tha thứ trong những cách thế luôn luôn mới mẻ và làm cho chúng ta không khỏi ngỡ ngàng trước sự tha thứ đó.

Trong chiều hướng đối thoại, Đức Thánh Cha khẳng định cả Do Thái Giáo và Hồi Giáo đều xem Lòng Thương Xót là một trong những thuộc tính quan trọng nhất của Thiên Chúa. Chính vì vậy, Đức Thánh Cha bày tỏ niềm tin vững chắc rằng Năm Thánh cử hành Lòng Thương Xót này sẽ mở ra những cuộc gặp gỡ giữa các tôn giáo và những truyền thống tôn giáo cao quý khác. Ước mong khi những cuộc đối thoại chân thành được mở ra, các tôn giáo sẽ hiểu biết nhau hơn, sẽ loại bỏ tất cả các hình thức khép kín và thiếu tôn trọng, sẽ xua tan mọi hình thức bạo lực và phân biệt đối xử.

KẾT LUẬN

Ước chi trong Năm Thánh này, giữa lòng Giáo Hội, lời của Chúa được vang lên mạnh mẽ như một thông điệp và như dấu chỉ của sự tha thứ, sức mạnh, sự trợ giúp, và tình yêu. Xin cho Giáo Hội không bao giờ mệt mỏi mở rộng Lòng Thương Xót, và luôn kiên nhẫn trao ban Lòng Thương Xót và sự ủi an của Chúa. Chúng ta hãy cùng với cả Giáo Hội liên lỷ thưa lên rằng: “Lạy Chúa, xin nhớ lại nghĩa nặng với ân sâu. Ngài đã từng biểu lộ từ muôn thuở muôn đời” (Tv 25: 6).

 

 

 


[1] Chúng ta không đề cập vấn đề chính xác trong cách tính toán năm Chúa Giêsu sinh ra.

[2] Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Tông thư Tertio Milllennio Adveniente, số 15.

[3] Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII, Diễn từ khai mạc Công Đồng Vatican II, Gaudet Mater Ecclesia, 11-10-1962, số 2-3.

[4] St. Thomas Aquinas, Summa Theologiae, II-II, q.30, a.4.

[5] Đức Giáo Hoàng Phanxicô, Tông thư Misericordiae Vultus (Khuôn mặc xót thương), số 9.

[6] Theo thông thường cứ mỗi 33 năm để tưởng nhớ việc Chúa Giêsu sống trên trần gian trong 33 năm.

[7] Các Tông sắc về Năm Thánh trước đây đều được viết bằng tiếng Latin.

[8] Thánh Gioan Baptiste de La Salle và Thánhh Rita de Cascia

[9] Lm. Giuse Phạm Quốc Văn, OP., Tìm hiểu Năm Thánh và Năm Thánh Lòng Thương Xót, phần III.

[10] Đức Thánh Cha Phanxicô, Tông thư Misericordiae Vultus, số 10.

[11] Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, Thông điệp Dives in Misericordia, số II, 2.

[12] Ibidem.

[13] Đức Thánh Cha Phanxicô, Tông thư Misericordiae Vultus, số 6.

[14] Ibid., số 8.

[15] Ibid., số 14.

[16] Ibid., số 17.

 

 

Năm Thánh Lòng Chúa Thương Xót