✉ hylecuoicung@gmail.comTrang thông tin Huấn Giáo

Hiểu Sống Đức Tin: Tại Sao Chúa Phục Sinh Hiện Ra Với Những Phụ Nữ Trước Các Tông Đồ?

Ta hãy lật lại những trang viết về phụ nữ trong xã hội Do Thái thời Chúa Giêsu thì biết. Người công chính mỗi ngày tạ ơn Chúa như thế này

Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP.

 

 

Tại sao khi sống lại, Chúa Kitô lại hiện ra cho những phụ nữ trước khi hiện ra cho các Tông Đồ?

Có một lần Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII, trong một buổi tiếp kiến dành cho một nhóm các người phụ nữ, đã đặt lên câu hỏi tương tự cho các bà. Nhưng người phụ nữ chưa kịp suy nghĩ thì ngài đã trả lời luôn: “Tại vì mấy bà bép xép hay nói. Nếu mà Chúa hiện ra với mấy ông trước, thì mấy ông chỉ gật gù hay cùng lắm là rủ nhau vào quán nhậu một chầu tán gẫu là hết; còn hiện ra với những phụ nữ thì chẳng mấy chốc mà tin đồn vang tới mọi hang cùng ngõ hẻm. Chúa Kitô rành tâm lý lắm!”. Dĩ nhiên là các người phụ nữ nghe như vậy thì cười ồ lên. Nhưng đó là chuyện xảy ra cách đây hơn 50 năm rồi, vào thời mà phong trào phụ nữ còn yếu. Ngày nay, nếu Đức Giáo Hoàng nào mà còn dám lý luận như vậy nữa, thì chắc là sẽ bị phong trào nữ giới kiện ra tòa án nhân quyền vì “phạm lỗi kỳ thị phái nữ”. Do đó mà chúng ta thấy cần phải đi tìm câu trả lời khác, làm sao để mà tránh được sự kỳ thị phái tính, và nếu có thể được thì gắng bồi thường danh dự của những phụ nữ đã bị xúc phạm từ mấy chục thế kỷ qua.

Danh dự của phụ nữ đã bị xúc phạm như thế nào?

Ta hãy lật lại những trang viết về phụ nữ trong xã hội Do Thái thời Chúa Giêsu thì biết. Người công chính mỗi ngày tạ ơn Chúa như thế này: “Chúc tụng Đấng đã không dựng nên con làm kẻ ngoại, bởi vì dân ngoại không là đồ gì trước mặt Chúa hết! Chúc tụng Đấng đã không dựng nên con làm đàn bà, bởi vì đàn bà không bị ràng buộc bởi điều răn Chúa! Chúc tụng Chúa đã không dựng nên con làm kẻ ngu dốt, vì kẻ ngu dốt không biết đâu là tội vạ cả!”. Sử gia Flavius Josephus cũng ghi lại tập tục pháp đình Do Thái vào thời Chúa Giêsu, là trong các vụ xử kiện không nên kêu các phụ nữ ra làm nhân chứng, bởi vì đàn bà nhẹ dạ và hay nói liều.[1] Chính trong cái bối cảnh lịch sử đó, ta thấy cái tầm quan trọng của việc Chúa Giêsu hiện ra cho các phụ nữ, sai các phụ nữ loan tin cho các Tông Đồ rằng Người đã sống lại. Như vậy, Chúa Giêsu trả lại danh dự cho các phụ nữ khi giao cho các phụ nữ vai trò làm nhân chứng cho Người, vào thời buổi mà người ta coi lời của phụ nữ không đáng tin cậy.

Chúa Giêsu có hiện ra với Đức Maria không?

Chúng ta đoán chắc rằng, theo lẽ đương nhiên thì liền sau khi sống lại, Chúa Kitô đã đi gặp mẹ của Người ngay. Tuy nhiên, Tin Mừng đã yên lặng về điểm đó. Tại sao vậy? Lý do là vì các thánh sử không chủ ý ghi lại hết tất cả các biến cố đã diễn ra theo kiểu một ký giả viết bài tường thuật ở nhật báo, hay là một nhân viên an ninh phải thảo biên bản phúc trình. Ta đừng quên rằng, khi viết sách Tin Mừng, các thánh sử cùng chia sẻ một sứ mạng mà Chúa Kitô ủy thác cho các Tông Đồ, tức là rao giảng Tin Mừng cho muôn dân. Sách Tin Mừng là một phương tiện chính yếu để thực thi sứ mạng đó. Vì thế, không lạ gì mà các thánh sử chỉ ghi lại những lần Chúa Kitô hiện ra cho những người đã lãnh nhận ơn gọi và sứ mạng đi làm nhân chứng.

Trong số đó, những người đi làm nhân chứng có cả các phụ nữ nữa, có đúng vậy không?

Đúng như vậy. Và càng ngày, người ta càng lưu ý đến điểm này hơn. Trước đây, bởi vì các sách thần học do các ông viết, cho nên các ông chỉ để ý đến những lần Chúa Kitô kêu gọi đàn ông, thí dụ các thánh Tông Đồ hay là 72 môn đệ. Từ ngày các phụ nữ bắt đầu nghiên cứu thần học, thì các phụ nữ mới đưa ra những đường lối cách mạng của Chúa Giêsu. Thực vậy, nếu mà Chúa Giêsu chỉ kêu gọi các ông đi làm môn đệ thì có chi khác lạ với các Rabbi Do Thái đâu; điểm mới lạ của Giao ước mới là ở chỗ Người kêu gọi cả các phụ nữ nữa, và Người đã thành công hơn nhiều. Bằng chứng là khi thuật lại cảnh đóng đinh Chúa Giêsu trên thập giá, thánh Matthew ở chương 27, câu 55-56 đã viết rằng: “Có nhiều phụ nữ đứng gần kề, những người đã theo Đức Kitô từ Galilea và đã phục vụ Người, trong số đó có Maria Magdalena, Maria mẹ của Giacobe và Giuse, và bà mẹ của các con ông Zebede”. Hai câu văn ngắn ngủi nhưng gói ghém rất nhiều điều quan trọng.

– Thứ nhất, ngay từ khi Đức Giêsu bắt đầu sứ mạng ra giảng Tin Mừng ở Galilea, đã có một số phụ nữ đi theo Người. Nói khác đi, ngay từ đầu sứ vụ công khai, Đức Giêsu đã gọi cả người nam lẫn người nữ đi theo Người, và họ đã đáp lại tiếng gọi.

– Thứ hai, các phụ nữ hơn các ông một điểm, là khi Đức Kitô bị đóng đinh vào thập giá, thì các ông bỏ chạy trốn hết; chỉ còn các phụ nữ đứng lại chứng kiến; và bởi vì chỉ có các phụ nữ chứng kiến, cho nên chỉ có mấy phụ nữ mới biết và có thể làm chứng được, chứ các ông có biết gì đâu mà nói!

– Thứ ba, trong số biết bao phụ nữ đã theo Đức Giêsu, tác giả Tin Mừng Matthew đã nhắc đến tên của ba bà: Maria Magdalena, Maria mẹ của Giacobe, và bà mẹ của các con ông Zebede. Họ đã chứng kiến cái chết của Chúa Giêsu; họ đã chứng kiến việc an táng Chúa (chương 27, câu 61); và họ là những người đầu tiên chứng kiến biến cố Phục Sinh khi tới mộ Chúa (chương 28, câu 1-10). Từ đó, kết luận số một: chứng tá của các phụ nữ mạnh hơn các ông, bởi vì các phụ nữ đã theo dõi chứng kiến câu chuyện từ đầu đến cuối, còn các ông biết được điều gì là vì được các phụ nữ kể lại cho nghe thôi. Kết luận số 2: trong cộng đồng các tín hữu của Đức Kitô, các ông hãy khiêm tốn chịu lép vế đi. Kết luận số 3: Chúa Giêsu đã thực hiện một cuộc cách mạng xã hội quan trọng trong việc thăng tiến phụ nữ, nhưng mà trải qua hơn hai mươi thế kỷ, Giáo Hội do mấy ông điều khiển cứ muốn dìm các phụ nữ xuống.

Và lại còn bôi nhọ các phụ nữ nữa, thí dụ coi Maria Magdalena là một cô gái điếm hoàn lương.

Nói cũng hơi oan. Đâu có ai chủ ý bôi nhọ các phụ nữ đâu! Vấn đề là vì thời Trung cổ, ít khi có dịp đi viếng đất thánh, nên nhiều người không rành địa lý của miền Palestina, từ đó mới có những chuyện giải thích sai. Câu chuyện như thế này. Các Tin Mừng đều kể lại cảnh một phụ nữ xức dầu vào chân Đức Giêsu đang lúc Người đang dùng bữa. Bà ấy tên gì? Gốc gác ra sao? Tác giả Marco (chương 14 câu 3) và Matthew (chương 26, câu 7) chỉ nói trống là có một phụ nữ, nhưng không cho biết tên. Tác giả Gioan (chương 12 câu 3) thì nói là Maria chị của Lazaro. Dù sao thì sự việc xảy ra ở Betania, vì vậy mà người ta gọi bà ta là Maria Betania, chị em với Marta và Lazaro. Nhưng tác giả Luca (chương 7 câu 36) cũng có nói tới một cuộc xức dầu tương tự, do một người đàn bà tội lỗi; vì thế không lạ gì mà người ta gán ghép hai cảnh với nhau. Có điều, Maria Betania không thể đồng hóa với Maria Magdalena được, bởi vì Betania và Magdala là hai làng hoàn toàn khác nhau.

Ngày nay, trong ngày lễ kính thánh nữ Maria Magdalena (ngày 22 tháng Bảy), bài Tin Mừng không còn phải là cảnh phụ nữ tội lỗi rửa chân xức dầu cho Đức Giêsu nữa, nhưng là cảnh Chúa Kitô Phục Sinh hiện ra với các phụ nữ, và ủy thác cho các phụ nữ đi loan tin cho các môn đệ biết biến cố Phục Sinh. Nói rằng Giáo Hội bôi nhọ các phụ nữ, nhất là bà Maria Magdalena, thì không hoàn toàn đúng. Bởi vì trong ca tiếp liên ngày lễ Phục Sinh, chúng ta đã đọc thấy những lời sau đây: “Dic nobis Maria, quid vidisti in via?” – “Maria, bà hãy nói cho chúng tôi nghe, bà đã thấy gì dọc đường?”. Phụng vụ không có hỏi chứng nhân nào khác ngoại trừ Maria Magdalena. Chính vì vậy, thời Trung cổ, Maria Magdalena đã được mang biệt hiệu là “Apostola apostolorum” – “Tông Đồ của các Tông Đồ”. Maria đã được Chúa Kitô Phục Sinh sai đi mang tin vui trọng đại cho các thánh Tông Đồ, những vị mà về sau cũng lại được chính Chúa Kitô sai đi rao giảng Tin Mừng cho muôn dân. Điểm này đã được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolo II nêu bật trong Tông thư Mulieris Dignitatem (Phẩm giá phụ nữ) số 16. Đâu có phải là trong suốt 20 thế kỷ qua Maria Magdalena bị hạ nhục đâu!

Dù sao, chúng ta cũng phải ghi ơn các nữ thần học gia vì đã lưu ý các ông rằng, các phụ nữ cũng được ơn gọi ra đi làm chứng nhân cho Chúa Kitô Phục Sinh, không những như các ông mà còn trước các ông nữa. Chưa hết, các nữ thần học gia còn muốn lật ngược thế cờ, không những là cho mấy ông xuống “hạng B” mà còn khẳng định rằng, chính các phụ nữ mới là biểu tượng của Giáo Hội Chúa Kitô. (Ta có thể kết luận: do đó nếu các ông không biến thành đàn bà thì sẽ không đáng làm phần tử Giáo Hội Chúa Kitô). Người ta lập luận như sau: trong bốn Tin Mừng, thánh sử viết về Giáo Hội nhiều nhất là Matthew; thế nhưng, người đề cao vai trò của phụ nữ hơn hết cũng lại là Matthew. Vài bằng chứng. Trong gia phả của Chúa Giêsu, tác giả Matthew xen tên của bốn phụ nữ, một điều hoàn toàn trái ngược với truyền thống Do Thái thời đó. Suốt tác phẩm của mình, tác giả Matthew muốn cho thấy sự đối chọi giữa Giáo Hội với Do Thái giáo, vì người Do Thái mù quáng không chịu nhìn nhận những lời tiên tri đã hoàn tất nơi Đức Kitô. Sự đối chọi ấy nổi bật hơn cả vào lúc Đức Giêsu giáng sinh và vào lúc Đức Giêsu Phục Sinh. Khi Đức Giêsu giáng sinh, sự đối chọi được biểu lộ giữa các học sĩ Đông phương, tượng trưng cho dân ngoại, đến thờ lạy Hài Nhi Giêsu, đối lại với vua Herod tìm cách giết hài nhi. Còn khi Đức Giêsu Phục Sinh, sự đối chọi được tượng trưng qua nhóm các người phụ nữ, đại diện cho Giáo Hội, làm chứng biến cố Phục Sinh, đối lại với các lính canh, tượng trưng cho Do Thái giáo, muốn bịt miệng lại. Kết luận, cộng đồng Kitô hữu gồm nên bởi dân ngoại và các phụ nữ, tức là những thành phần bị người Do Thái coi khinh, thì nay được ơn đón nhận mạc khải của Thiên Chúa. Do đó, nếu các ông không biết xếp hàng đứng sau các phụ nữ thì cũng sẽ bị loại. Tôi xin miễn bàn.

 

 


[1] Antiquitates Judaicae lib. IV, 8,15.

 

 

 

Hiểu Sống Đức Tin