✉ hylecuoicung@gmail.comTrang thông tin Huấn Giáo

Đức Giêsu Kitô Và Các Tôn Giáo: Đối Thoại Và Tuyên Xưng – 06

Đối thoại liên đức tin thiết yếu được đặt nền tảng trên kinh nghiệm của con người – một lần nữa theo chuyên ngữ Kitô giáo – với Thiên Chúa, trong sự hiện diện của Chúa Linh của Người trong cuộc sống của chúng ta và trên thế giới.

ĐỨC GIÊSU KITÔ VÀ CÁC TÔN GIÁO

LUẬN VĂN VỀ THẦN HỌC CÁC TÔN GIÁO

Nguyên tác: JESUS CHRIST and the Religions: An Essay in Theology of Religions

Tác giả: Hans Waldenfels

Dịch giả: Trần Hữu Thuần

***

***

CHƯƠNG V

ĐỐI THOẠI VÀ TUYÊN XƯNG

(Dialogue and Profession)

 

PHÉP LẠ CỦA NGÔN NGỮ (The Miracle of Language)

Lịch sử bao gồm nhiều khía cạnh và cuộc sống của nhiều câu chuyện. Tuy nhiên, các câu chuyện phải được những ai đã kinh nghiệm về chúng kể lại. Nơi đâu người ta gặp gỡ nhau bằng cách trao đổi các câu chuyện và tường thuật, họ đưa ra một kinh nghiệm hai tầng: Một mặt, thực kì diệu khi người ta có thể lắng nghe và nhận thức lẫn nhau. Mặt khác, thực đau đớn khi người ta không nhận thức lẫn nhau và không có bất kì khả dĩ nào đi đến một nhận thức. Với cả hai, có các lí do chính đáng.

Thoạt nhìn, cả hai – nhận thức và không nhận thức – liên quan đến phép lạ của ngôn ngữ, khả năng của con người để nói. Nó là một đặc điểm của việc trở nên con người rằng họ có thể truyền thông với nhau bằng lời nói. Thậm chí nếu một người bởi vì bệnh hoạn không thể nói được, có các phương tiện tương tự về truyền thông có thể được học biết. Tuy nhiên, thậm chí những người có thể nói thường không thể hiểu bởi vì có nhiều ngôn ngữ, và không phải tất cả mọi người đều cùng nói một ngôn ngữ. Mọi người đều có ngôn ngữ mẹ đẻ của mình; tất cả các ngôn ngữ khác, thoạt tiên, đều là ngôn ngữ xa lạ.

Trong Kinh thánh, tình huống về các ngôn ngữ đã được giải thích bằng hai tường thuật to lớn. Khi dân tộc xứ Babel cố gắng trở nên giống như Thiên Chúa và nắm lấy quyền lực bằng cách xây dựng một cái tháp, Thiên Chúa san bằng cái tháp và làm cho ngôn ngữ của dân tộc đó hỗn loạn, “thế nào để một người không thể hiểu những gì người khác nói” (St. 11, 7). Ở đây tri thức về ngôn ngữ là một phương cách đến cây tri thức qua đó con người trở nên giống như Thiên Chúa. Ngược lại tại Giêrusalem sau cuộc phục sinh của Đức Kitô, một phép lạ vĩ đại đã xẩy ra vào Lễ Hiện xuống; tất cả mọi người hiện diện đều kinh ngạc trong khi lắng nghe Phêrô, “bởi vì từng người nghe họ nói bằng chính ngôn ngữ của mình.” Họ hỏi: “Thế thì tại sao từng người trong chúng ta nghe họ bằng chính ngôn ngữ mẹ đẻ của mình?… Chúng ta nghe họ nói bằng chính ngôn ngữ của chúng ta về các hành động uy quyền của Thiên Chúa” (Cv. 2, 6 tiếp, 11). Nhờ quyền lực của Chúa Thánh Linh, tất cả người hiện diện đều có thể hiểu. Nếu chúng ta chuyển nó vào trong chính cuộc thảo luận của chúng ta, chúng ta cũng có thể nói: “Chuyển liên hệ” (trans-lation) đã xẩy ra.

“CHUYỂN LIÊN HỆ” (Trans-lation)

Ở đây chúng ta trở nên biết được một mặt khác của lời lẽ con người: Con người có thể học biết cách lắng nghe và nói, thậm chí làm sao để đọc và viết bằng các ngôn ngữ xa lạ, tóm lại làm sao để truyền thông với nhau bằng ngôn ngữ xa lạ. Chúng ta nói về “chuyển liên hệ” (trans-lation), nghĩa đen là mang qua, chuyển qua, đi qua, bắc cầu qua.” Khả năng này chứng tỏ rằng ngôn ngữ xa lạ không trì hoãn sự hiệp nhất của chủng loại con người. Nói cách khác: Các ngôn ngữ khác biệt không làm thành các chủng loại khác nhau của động vật. Chẳng phải ngôn ngữ hoặc màu da hoặc sắc dân hoặc giới tính hoặc tôn giáo hủy diệt sự hiệp nhất của con người hiện thân. Đúng hơn nó thuộc về con người hiện thân mà vượt quá các khía cạnh của hữu tận – địa điểm và thời gian, ngôn ngữ, chủng tộc và văn hóa, và tôn giáo nữa – một hiện thân con người theo bản thể của mình được mở ra cho các sự vật khác và các con người khác, cho nhiều hơn và cho bất cứ điều gì mới mẻ. Con người thậm chí còn được lấp đầy với ao ước điều không biên giới và điều vô tận. Tất cả điều này xẩy ra ngay khi một ai đó lìa bỏ chính vị trí của mình và chuyển động đến vị trí của một ai khác. Khả năng thay đổi các vị trí cũng là một lí do rằng con người sau khi trải qua nhiều vị trí mong muốn đạt đến một vị trí từ đó họ – có lẽ với đôi mắt của Thiên Chúa – có thể khảo sát mọi sự.

Cơ may đầu tiên, qua đó ao ước thêm nhiều có thể được lấp đầy, được trao cho những gì chúng ta gọi là “chuyển dịch” (translation). Sự thực, chuyên ngữ như chúng ta sử dụng hàng ngày, hình như là một chuyên ngữ kĩ thuật. Như đã được chỉ ra, nó bao hàm nhiều hơn thế. Cách thông tuệ và như thế với toàn thể hiện thân của họ, trong toàn bộ sự hữu tận của cái tôi của họ, con người được trao cho tính có thể được để chuyển động – nhưng đang đi ngang qua một dòng sông – đến bến bờ của tha nhân và do đó để vượt qua đến bến bờ bên kia. Theo Phật giáo, ý niệm có được một ảnh hưởng cao cấp hơn trong hình ảnh của Tiểu và Đại Thừa (Little and Great Vehicle). Rằng việc vượt qua không phải là dễ dàng và cần đau đớn và nỗ lực, quen thuộc với bất cứ ai cố gắng học biết một ngôn ngữ mới.

Bất cứ ai biết chút ít về các ngôn ngữ xa lạ và không chỉ có khả năng để đọc, mà còn để nói, cũng biết về các giới hạn của các bản chuyển dịch. Chẳng phải mọi thứ đều có thể chuyển dịch đầy đủ; hậu quả là không phải mọi thứ đều có thể hiểu được hoàn toàn. Người nào nhằm đến điều sau, phải học biết – như đã được đề cập trước đây – tự đặt mình vào quan điểm của người khác và chấp nhận nó và nhận thức sự vật từ các quan điểm khác nhau. Bằng cách làm vậy, nói chung, chính quan điềm của một người sẽ bị tương đối hóa. Các trình bày theo ngôn ngữ sẽ được chú ý trong sự khiếm khuyết, nhu cầu của chúng để bổ túc hoặc thậm chí thay thế. Trong thời đại của chủ thuyết số nhiều, nguy hiểm nổi lên rằng cuối cùng mọi sự căn bản bị tương đối hóa, và xem ra chẳng có gì còn giữ lại giá trị tuyệt đối và phổ quát nữa.

Cho dẫu ngày càng khó định đoạt được con tim của vấn đề hoặc trung tâm của mọi sự, vì lợi ích của sự hiệp nhất của dòng giống con người, một trung điểm có giá trị với mọi người và mọi người phải tôn trọng, được cần đến bằng mọi cách. Vấn đề là liệu điểm này vẫn còn có thể được diễn đạt hoặc rốt cùng thoát khỏi tất cả các diễn đạt ngôn từ thế nào để nó chỉ có thế thừa nhận đơn thuần bằng các chuyên ngữ tiêu cực, nghĩa là, trong các thừa nhận đánh dấu gần hết một không gian trống rỗng không thể được lấp đầy bởi nỗ lực của con người [1]. Hoặc có phải cuối cùng các người đó đúng, khi chúng ta tìm thấy họ trong nhiều tôn giáo và cũng trong số các người tin vào Đức Giêsu Kitô, tuyên bố rằng con người từ phía họ không có thể nói lên cốt lõi của vấn đề là gì, nhưng họ tin rằng con tim hoặc trung tâm của mọi sự có thể tự mình truyền thông theo một từ ngữ mà thôi không? Người Do thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo và các người tin khác suy luận tài năng ngôn ngữ của họ từ đấng tạo dựng vũ trụ; họ tin rằng Người không phải là một bậc thần thiêng im lặng, mà là một Thiên Chúa đang nói. Họ tin: Bởi vì Thiên Chúa nói bằng lời lẽ, Người chính là Lời như thế và cho phép con người đáp lại. Từ lời lẽ và đáp ứng phát triển thành những gì chúng ta gọi là “trách nhiệm” (responsibility), điều được diễn đạt rõ ràng hơn theo tuần tự của tiếng Đức Wort —> Ant-wort —> Ver-ant-wort-ung —> Ver-ant-wort-lichkeit.

Trách nhiệm là một thái độ lớn lên từ khả năng của chúng ta để đáp ứng với lời lẽ được một ai khác nói lên. Và tuần tự của lời lẽ và đáp ứng và khả năng trao đổi lời lẽ là một trong các quà tặng vĩ đại nhất được trao cho chúng ta. Không may là bối cảnh căn bản của từ ngữ phương Tây “responsibility” ngày càng bị rơi vào quên lãng.

ĐỐI THOẠI (Dialogue)

Vào thời này, “đối thoại” đã trở thành một từ chìa khóa. Chuyên ngữ nói đến nhận xét rằng loài người không chỉ sở hữu ngôn ngữ, mà còn rằng con người thiết yếu là “trò chuyện” (conversation); theo tiếng Đức chúng ta nói “Gesprӓch,” trong đó tiền tố (prefix) “Ge-” liên kết với một  danh từ làm thành một tập hợp trong đó một số nhiều được tập trung lại như là trong “Gesprӓch” bao gồm một tập hợp các hoạt động lời lẽ (speech actions) và dẫn đến một sự trao đổi lời lẽ (exchange of speech). Như thế con người thậm chí có thể được định nghĩa như là các hiện thân thiết yếu hiện hữu bằng sự trao đổi lời lẽ và thậm chí được làm thành trong hiện thân của họ bằng tính cùng với nhau (togetherness) trong việc nói năng. Dẫu vậy, hai việc thường bị bỏ qua:

1. Đối thoại được nhấn mạnh cách riêng nơi đâu con người đang được thừa nhận trong cá tính và tư cách xứng hợp cá thể của họ. Không có ý nghĩa khi nói về liên cá tính (inter-personality) và liên chủ thể (inter-subjectivity) bao lâu con người không được tôn trọng như là các chủ thể con người và con người trần thế. Không may là, những gì trong thế giới phương Tây được rộng rãi xem là một vấn đề đương nhiên không thể được nhận lấy tại các khu vực văn hóa khác. Nếu đối thoại được giả định còn hơn là một dụng cụ của hành vi hòa bình, nó phải được nhận thức như là phương cách trung tâm của sự hiệp nhất con người, trong ý nghĩa rằng tha nhân được tôn trọng như là một con người trần thế và như là một chủ thể. Do đó, người phương Tây không chỉ thảo luận vấn đề về quyền và tư cách xứng hợp của con người nói chung; họ phải đưa lên các vấn đề trong các khu vực văn hóa khác, cũng vậy tại châu Á, tại Trung quốc.v.v… và tìm hiểu rất cụ thể nhận thức của họ về từng con người một. Rằng vấn đề về “con người” (“person”) cũng là một vấn đề nghiêm trọng bất cứ nơi đâu chúng ta bàn đến khởi đầu và kết thúc của sự sống con người trong bán cầu của chúng ta không thể bị bỏ qua trong im lặng.

2. Đối thoại đạt đến một vị trí trong sự quan trọng trung tâm cho sự hiệp nhất con người nơi đâu weltanschauung[2] và các tôn giáo giao cho ngôn ngữ một vị trí đặc biệt. Nghĩa là chẳng có vụ việc nào theo văn hóa và tôn giáo bao quát đến thế như Do thái giáo và Kitô giáo. Nhận thức này không phải được nhận thức đơn giản theo ý nghĩa của tính trịch thượng, thậm chí nếu về lâu về dài thế giới phương Tây đã cho ra ấn tượng đó. Tuy nhiên, nó cống hiến một cơ hội để khảo sát qua lại phương cách của các sự gặp gỡ và hành vi của con người.

Sự kiện rằng thế giới phương Tây cũng trải qua một tiến trình học hỏi, có thể thu lượm từ sự kiện rằng chúng ta đang sống trong thời đại sau Descartes và cũng là sau thế tục. Qua nhiều thế kỉ, người phương Tây đã đang sống theo công thức ngắn được gán cho nhà triết học Pháp René Descartes (1596-1650) “Cogito ergo sum,” “tôi tư duy, do đó tôi hiện hữu”; kể từ đó sự nhấn mạnh đặt trên cái tôi của con người định đoạt ý thức của con người. Chỉ đến cuối thế kỉ thứ 20, tình huống đã thay đổi, và nhiều chú ý hơn được trao cho người khác và người xa lạ. Sự thực, chính ý thức ngày càng được tư duy từ phía của người khác, gần như theo ý nghĩa của “Quí vị hiện hữu, do đó tôi hiện hữu” (You are, therefore I am). Các nhà tư duy Do thái như Martin Buber (1878-1965), Franz Rosenzweig (1886-1929) và về sau Emmanuel Levinas (*1906) đã thay đổi tư duy phương Tây hướng đến “quí vị —> tôi —> chúng ta.”

Khái niệm “con người” mất sự nhấn mạnh một phía của nó trên tính cá thể và đạt đến như là một tính liên hệ tiêu biểu thiết yếu thứ hai – bên trong thế giới (innerwordly), liên con người (inter-human) và siêu việt. Trong nền thần học Kitô giáo, sự chú ý mới được đưa đến nhận thức về Ba Ngôi của Thiên Chúa. Cuối cùng sự nhấn mạnh vào thành tố liên hệ trong khái niệm về con người dẫn đến điểm rằng những ai cho đến nay định nghĩa con người trên tất cả như là hiện thân cá thể, đã phải định hình lại nhận thức của họ. Điều này sẽ là quan trọng đặc biệt trong đối thoại với người châu Á, nhưng cũng vậy trong cuộc thảo luận phương Tây về chủ thể con người.

Ngay khi chúng ta đưa vào các điểm được đề cập vào trong cuộc đối thoại về các tôn giáo, các tôn giáo khác đang bị hỏi đến các lập luận và tiền đề về nhân chủng học, và họ được mời gọi xem xét lại các thành tố căn bản của hành vi đối thoại. Không may là nghi ngờ chống lại tuyên bố phương Tây và Kitô giáo vẫn còn phổ biến về chủ thuyết tuyệt đối và tính trịch thượng đang hiện hữu như trước, điều ngăn cản một sự cạnh tranh đích thực. Thực sự, nó không giúp gì mấy nếu chúng ta làm việc với bóng gió xa gần và nghi ngờ và không với các lập luận rõ ràng. Điều này cũng áp dụng cho việc đề cập đến các tin tưởng căn bản của niềm tin phải được thảo luận mà không khuấy động, cách bình tĩnh và với thư thái.

Là căn bản cho một cuộc đối thoại đích thực rằng các bên được đối xử như là người ngang hàng trong việc họ tất cả đều là chủ thể. Về lâu về dài, nội dung của một cuộc đối thoại, tuy nhiên, không là chính cuộc đối thoại. Trong vụ việc của các cuộc đối thoại chính thức, đầy đủ ý nghĩa để đi đến một thỏa thuận trước về các thủ tục và điều kiện, về mục đích và các chủ đề và các điểm tương tự. Nhưng thông thường trong tiến trình cuộc đối thoại, các người dự phần ít quan tâm đến chính họ mà đến một thành tố thứ ba: kế hoạch trong tâm trí, vấn đề phải được giải quyết, câu hỏi cần có một câu trả lời trên lí thuyết và thực hành. Theo ý nghĩa này, con người với nguồn gốc khác nhau đang nỗ lực với các vấn đề hiện hữu to lớn như sự khởi đầu và kết thúc của vũ trụ, ý nghĩa của loài người, cách cụ thể cũng với nghèo khó và sự phân bố chính trực của cải của trần thế, sự cân bằng giữa môi sinh và kinh tế, với công bình và hòa bình, việc vượt qua các đối kháng, hành vi trách nhiệm đạo đức liên quan đến sự sống con người, sự khởi đầu của nó và một kết thúc xứng đáng với hiện thân con người, với các giới hạn của sự hủy hoại của con người, cuối cùng với những gì hoàn toàn vượt quá sự hủy hoại của con người, những gì cuối cùng nhiều người gọi là “Thiên Chúa.”

Trong nhân chủng học của họ, tất cả các tôn giáo quay về lại với nguồn gốc. Như là một nguồn gốc tôn giáo, nó không đơn giản chỉ là có tính lịch sử; vì nó cũng dẫn chiếu đến cốt lõi không thể diễn đạt được, đến “khoảng không trống vắng” hoặc – theo ngôn ngữ của chúng ta – đến “Thiên Chúa.” Đối thoại liên đức tin thiết yếu được đặt nền tảng trên kinh nghiệm của con người – một lần nữa theo chuyên ngữ Kitô giáo – với Thiên Chúa, trong sự hiện diện của Chúa Linh của Người trong cuộc sống của chúng ta và trên thế giới. Do đó, chúng ta nói về “kinh nghiệm tâm linh” và nối kết đối thoại với tâm linh sống động. Tuy nhiên, bằng việc nói về kinh nghiệm tâm linh, chúng ta không được bỏ qua rằng tất cả các kinh nghiệm của chúng ta xẩy ra như là kinh nghiệm vật chất, trong lịch sử và trong thế giới, không tách biệt khỏi thực tại chúng ta đang sống hàng ngày.

TUYÊN XƯNG (Profession)

Một con người, nói về kinh nghiệm tâm linh của mình, trở thành một “người tuyên xưng” (a confessor) hoặc một chứng nhân của đức tin. Nếu đối thoại liên tôn giáo không phải kết thúc bằng một sự trao đổi đơn thuần các thông tin, nó mời gọi chúng ta tuyên xưng niềm tin của mình. Đó chính là công việc bởi vì con người tiến đến với nhau với một con tim cởi mở và chân thành, không thể bỏ qua điều tốt quí báu nhất của họ trong im lặng. Người nào tin rằng có thể dấu kín điều quí báu nhất người đó sở hữu, hoặc là ích kỉ hoặc không tự nguyện chia sẻ, hoặc chính người đó không tin. Lúc đó người đó phải xem lại thái độ của mình.

Tôi nhớ lại một trong các kinh nghiệm ấn tượng nhất của tôi tại Ấn độ, cuộc thăm viếng đền Sikh tại Bangalore. Người tư tế dẫn chúng tôi đi quanh vào một sáng Chúa nhật và giải thích chi tiết phòng bàn thờ, sách thánh, vị trí hành lễ. Trước khi chia tay chúng tôi tại cửa, ông đặt một ít miếng chất dẻo trên tay chúng tôi lấy từ một chậu nhỏ. Khi tôi ngần ngừ và không biết phải phản ứng làm sao, người đồng hành Công giáo của tôi nói: “Đó là prasad.” Từ ngữ có nghĩa là “ân sủng và từ tâm của Thiên Chúa.” Quà tặng đến từ nghi thức buổi sáng. Theo một phương cách, người tư tế bao gồm chúng tôi vào trong lời cầu nguyện ông đã dâng hiến lúc ban sáng. Nó là một thể loại hiệp thông ông chia sẻ với chúng tôi bằng cách để chúng tôi dự phần vào thứ quí báu nhất ông phải cho đi và điều đó quan trọng cho ông. Thực sự, nó là việc chia sẻ. Nhớ lại kinh nghiệm này, tôi chắc chắn một số người châu Á tham dự Thánh Lễ Chúa nhật của tôi tại Bonn và đứng trước mặt tôi với đôi tay mở ra trước hiệp lễ, nhận thức được bài thuyết giảng như là một lời tuyên bố về prasad thế nào để như lẽ đương nhiên họ cảm thấy được mời gọi và dự phần vào trong việc chia sẻ của những gì với Kitô hữu là có giá trị và quí báu nhất.

Không may là, việc tư duy có tính lịch sử và hữu lí tại thế giới phương Tây thường che mất sự tuyên xưng Kitô giáo như một đám sương mù. Như đã đề cập trước đây, một cội rễ của tai biến giáo hội là sự nứt rạn giữa suy tư thần học và nỗ lực diễn dịch văn chương một mặt, và thực hiện tôn giáo, sùng kính bí tích và các sùng kính khác mặt khác. Bất cứ nơi đâu tôn giáo được thực hành mà không suy tư, nó gặp nguy hiểm bởi chủ thuyết cơ bản (fundamentalism). Tuy nhiên, bất cứ nơi đâu thần học được làm mà không thực hành, có xu hướng rằng thần học trở thành một khoa học Kitô giáo về tôn giáo nơi thông điệp Kitô giáo chẳng định đoạt quan điểm của một người cũng chẳng dẫn đến một dấn thân đầy đủ xa hơn chút nào. Thỉnh thoảng, người dự phần Kitô giáo vào các cuộc đối thoại và hành động liên đức tin phải chịu đựng việc bị hỏi về chính các cam kết tôn giáo của họ, như, nói ví dụ, người phương Tây dính líu đến các hành động tại Trung Đông đã liên quan đến gần đây. Một vấn đề khác nối kết với vụ việc dính líu thực sự hiện hữu được quan tâm với tính có thể được của việc chuyển đổi (conversion).

CHUYỂN ĐỔI (Conversion)

Với tất cả các tôn giáo, thiết yếu là rằng chúng mang đến cho thế giới tràn đầy đau khổ và đau đớn, tai ương và tội lỗi, một thông điệp về giải thoát và hòa giải, và rằng chúng chỉ ra các phương cách làm sao con người có thể tìm ra con đường của chúng và thậm chí đi với họ trên đường. Thường thường, tính số nhiều của các thông điệp như vậy – như trong việc tranh cãi của các môn đồ về vị trí thứ nhất trong vương quốc mà Đức Giêsu tuyên bố (xem Mc. 9, 33-37) – dẫn đến tranh cãi về tính giá trị của các thông điệp. Tuy nhiên, ở đây, tôi muốn kêu gọi sự chú ý đến sự kiện rằng các phương cách khác nhau của việc đi qua (passing-over) đến các quan điểm khác, việc sử dụng các ngôn ngữ khác.v.v… bao gồm một tính có thể được thậm chí còn quan trọng hơn: sự thay đổi hiện hữu đi vào một tôn giáo khác, những gì chúng ta gọi là “chuyển đổi” (conversion [3]). Chúng ta thậm chí có thể nói khía cạnh hiện hữu của tôn giáo phải đạt được sự ưa chuộng to lớn hơn so với các tìm thấy khách quan trong lịch sử của tôn giáo và các tôn giáo. Cho dẫu các tìm thấy này có ảnh hưởng của chúng trên các tôn giáo, chúng là tùy thuộc khi đi đến các câu hỏi về sự hiện hữu cá nhân.

“Conversion” – từ tiếng Latin conversio = khúc quanh (turn), tiếng Hilạp metanoia = khúc quanh của tư duy, tư duy cách khác, mới mẻ – trước hết, là cách diễn đạt một sự thay đổi tận gốc rễ chỗ đứng (standpoint) hay cách nhìn (point of view). Người chuyển đổi bỏ lại đàng sau – ít nữa bề ngoài – vị thế lúc trước của họ và chọn lựa một vị thế khác trở nên cho họ là tiêu chuẩn. Sự thay đổi có thể được động viên cách khác nhau. Vụ việc đơn giản nhất được đưa ra nơi đâu một ai đó tuyên bố sau một thời gian dài khao khát và tìm kiếm: Cho đến lúc này, tôi đã không biết tôi đang đứng ở đâu và tin những gì; giờ đây tôi đã tìm thấy chỗ đứng của tôi trong một phương cách mới về cuộc sống. Có các chuyển đổi khác nơi người chuyển đổi chắc chắn có một sự tin tưởng, nhưng lập tức có ấn tượng rằng qua việc chuyển đổi, người đó không từ bỏ cách nhìn lúc trước của mình mà chỉ cải tiến nó. Như thế không ít người chuyển đổi từ Kitô giáo sang Hồi giáo nghĩ rằng trong Hồi giáo họ cuối cùng chuyển đổi hoàn toàn đến với Thiên Chúa bởi vì chỉ một người Hồi giáo là sẵn sàng để cho Thiên Chúa là Thiên Chúa. Họ thay đổi – như họ nghĩ – từ lấy con người làm trung tâm (anthropocentrism) đến lấy Thiên Chúa làm trung tâm (theocentrism) thực sự bởi vì Thiên Chúa là trung tâm độc đáo và duy nhất của cuộc sống họ và của mọi sự.

Sự thay đổi như vậy trong thái độ quá khứ của một người có thể xẩy ra nơi đâu Nhập thể của Thiên Chúa bị từ khước, hoặc nơi đâu tính người của Thiên Chúa bị từ chối bởi vì như thế xem ra tất các các đặc tính nhân chủng đều bị lấy khỏi Thiên Chúa và Người không còn là một hiện thân siêu con người với các khía cạnh con người. Sự thực, ở đây Đấng Thần thiêng hoặc – theo lời lẽ của John Hick, một trong các khuôn mặt hàng đầu của lí thuyết số nhiều – “Đấng Đích thực” (the Real) xem ra ở trên vị Thiên Chúa có tính người. Điều này dễ nhận thức bao lâu khái niệm về con người chủ yếu vẫn còn được diễn dịch như là tính cá thể (individuality), và tính cá thể được xem xét đến nhiều trong các giới hạn hơn là trong tính độc đáo của nó. Chuyển dịch đến con người của Đức Giêsu, Người ở bên trên tất cả những gì nhìn thấy được trong nhân tính bị giới hạn, không phải ở trong thần tính vô hạn của Người. Theo một công thức mới, sự phân biệt được thực hiện giữa totus Deus, điều áp dụng vào Đức Giêsu, Đấng – trong tất cả các giới hạn của Người – hoàn toàn là Thiên Chúa, và totum Dei, tính tổng thể (totality) của Thiên Chúa, điều phải vượt quá thậm chí các giới hạn của totus Deus.

Chuyển hóa có thể, trước tiên, là các tiến trình làm sâu đậm phương cách quá khứ của cuộc sống; thứ hai, các tiến trình lấy đi khỏi phương cách ngày trước của cuộc sống phối hợp với việc tiến gần đến một nền tảng và ý nghĩa mới của cuộc sống. Cuối cùng, chúng có thể đơn giản chỉ là các khám phá ra phương cách của cuộc sống dẫn đến các định hướng mới và một định hướng nền tảng của cuộc sống như vậy.

Trong lúc chớ đợi, chính là thành phần của hành vi con người mà con người tuyển chọn từ sự cung ứng được các tôn giáo đa dạng cống hiến bất cứ điều gì xem ra phù hợp với cuộc sống của họ. Như đề cập từ trước, sự kiện có tính lịch sử của lịch sử các tôn giáo trở nên kém quan trọng hơn sự kì diệu của các cá tính như Mẹ Têrêxa, Martin Luther King, các Giáo hoàng Gioan XXIII và Gioan Phaolô II hoặc Dalai Lama. Thật hấp dẫn để ghi nhận rằng theo Mahatma Gandhi, tính lịch sử của Đức Giêsu đóng một vai trò thứ yếu. Quả thực, Bài giảng trên Núi ấn tượng với ông cho đến nổi không quan trọng liệu Đức Giêsu đã sống hay không, duy nhất chỉ vì Người đã tuyên bố các lời lẽ được qui cho Người.

SỰ CẠNH TRANH CỦA CÁC TÔN GIÁO (Competition of Religions)

Với không ít người, thực là buồn chán khi đại diện các tôn giáo khác nhau cãi cọ nhau và ngoan cố biện hộ cho quan điểm của họ. Từ tình huống châu Á cụ thể, Aloysius Pieris gọi thể loại đối thoại này là “một xa xỉ” [4]. Sự thực, thái độ có phần lí thuyết này trở nên mãnh liệt nơi đâu các tôn giáo hống hách phán đoán lẫn nhau trong vấn đề cứu độ. Chúng ta đã đề cập đến câu châm ngôn Công giáo nổi tiếng “Extra Ecclesiam nulla salus” (= “Bên ngoài Giáo hội chẳng có sự cứu độ”), trong lúc này được thay thế bằng câu “Extra Christum nulla salus” (= “Bên ngoài Đức Kitô chẳng có sự cứu độ”). Cả hai mệnh đề không còn được diễn dịch theo nghĩa nhất định nữa mà chỉ còn được nhận thức theo phương cách rộng rãi, và điều đó trong một phương cách về sự mở rộng qua lại (mutual inclusiveness).

Lợi thế của mở rộng qua lại bao gồm trong sự kiện rằng – đối lại với cách xử lí số nhiều – các quan điểm khác nhau không chỉ được chú ý đến mà còn được đưa vào liên hệ với nhau. Con người của các phía khác nhau tự cởi mở ra cho nhau trong sự mở rộng qua lại, và rằng theo phương cách như thế, rằng nhận thức khác nhau về sự cứu độ không loại trừ nhau theo hiện hữu bao lâu tính không phù hợp không được chứng minh. Liên quan đến điều này, các đại diện của lí thuyết số nhiều bằng lòng với sự xác định sự hiện hữu thực sự của tính số nhiều của các niềm tin tôn giáo mà không đi vào trong việc đánh giá đối chiếu. Thái độ như vậy không thực sự có tính đối thoại, và rằng còn hơn nữa nó không vượt quá tầm mức của trò chơi thông tuệ lí thuyết. Trong một thời đại bất ổn, khốn khó, dịch bệnh và nghèo khổ nơi hàng ngày hàng ngàn người chết đói và không đủ ăn, một số nhận thức bạn hữu và cải tiến bầu khí mà thôi không đầy đủ.

Nói cho cùng, cách giải thích được biết đến nhiều nhất của thái độ mở rộng vẫn còn là khái niệm của Karl Rahner về một “Kitô hữu giấu tên.” Sự thực nó nguyên thủy được đặt ra từ quan điểm đơn thuần Kitô giáo, nhưng nhanh chóng khơi lên các phản ứng từ các phía khác đáp trả lại với các câu như “Nếu tôi là một Kitô hữu giấu tên, thì bạn là một Phật tử giấu tên,” hoặc thậm chí “một người vô thần giấu tên.” Thoạt nhìn, khái niệm “giấu tên” (anonymous) xem ra dẫn đến việc áp đặt hoặc trung tính hóa chính tên của một người hoặc thậm chí đánh mất nó. Thế nhưng bất cứ nơi đâu tên được trao đổi và áp dụng qua lại, trước hết, tên của chính một người không bị hủy hoại, ngược lại, nó sản sinh ra một cởi mở cho một ai đó và rồi nó trình bày cho người khác điều giá trị nhất mà một ai đó sở hữu, và sự cởi mở này xẩy ra qua lại. Chúng ta chỉ phải nhận ra rằng tên đứng ở đây thay cho nhân dạng của một người, điều không thể dễ dàng bị trao đổi [5].

Trong việc thực hành Phật giáo Thiền, nhiều phương pháp được áp dụng để dẫn dắt môn đồ đến việc thực hiện mục đích nhanh chóng hơn. Ví dụ, ông thầy đưa cho người đó một cái gọi là kōan, thường là một câu chuyện ngắn hàm ý một vấn đề hoặc một câu đố khó mà có thể giải quyết theo phương cách hữu lí hoặc lập luận thế nào để nó cần đến một số nắm bắt theo trực giác. Nổi danh là đòi hỏi của Thầy Hakuin (1686-1789): Đi và lắng nghe âm thanh của một bàn tay đang vỗ!” Keiji Nishitani nhắc lại một kōan nhằm giới thiệu với nhận thức của ông về tương quan Tôi-Anh (I-Thou) toàn bích; nó có nhan đề là Kyōzan và “Tên anh” (Kyōzan and “your Name”) [6]:

Kyōzan hỏi Sanshō,

“Tên anh là gì?”

Sanshō nói,

“Ejaku,”

Kyōzan nói,

“Ejaku – chính là tôi.”

Sanshō nói,

“Tên tôi là Enen.”

Kyōzan cười lớn tiếng.

Họ tên của Kyōzan là Kyōzan Ejaku, và họ tên của Sanshō là Sanshō Enen. Hiển nhiên sự trao đổi qua lại các tên gọi có thể nhận như là sự đóng góp vào vấn đề được xử lí ở đây.

Theo quan điểm của thái độ được yêu cầu cho một cuộc đối thoại liên tôn giáo, chúng ta có thể quay lại với câu hỏi căn bản liên quan đến mối liên hệ của Đức Kitô với các tôn giáo khác bằng cách rút ra một số kết luận có thể – có thể phải – được khảo sát bởi các bên trong cuộc đối thoại.

ĐỨC TIN VÀO ĐỨC KITÔ VÀ CUỘC ĐỐI THOẠI GIỮA CÁC TÔN GIÁO (Faith in Christ and the Dialogue Between Religions)

Chúng ta tóm lược các thảo luận của chúng ta trong một số mệnh đề:

1. Đức tin vào Đức Giêsu Kitô, “con người đích thực, Thiên Chúa đích thực”

Đối mặt với các tôn giáo khác, chẳng có lí do nào để Kitô hữu giảm thiểu đức tin vào Đức Kitô của họ. Niềm tin căn bản của Kitô hữu rằng Thiên Chúa tự truyền thông trong Đức Giêsu xứ Nazareth một lần cho mãi mãi, hoàn toàn và theo một phương cách không bình đẳng và rằng đi theo Đức Kitô trong cuộc sống và cái chết của Người dẫn đến sự cứu độ. Những gì được trao cho trong cuộc sống của Đức Kitô có giá trị với toàn thể loài người. Kitô hữu phải tuyên chứng như là di sản quí báu nhất của họ đức tin vào sự tự truyền thông (self-communication) và tự lìa bỏ (self-abandonment) của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô, và tuyên xưng rằng trong Đức Giêsu “con người đích thực” chúng ta gặp gỡ “Thiên Chúa đích thực.”

– Thần học Công giáo được bắt rễ trong cội nguồn, niềm tin vào Đức Giêsu Kitô như nó sống động và được chuyển giao trong truyền thống của Giáo hội và ba tầm mức của Giáo hội về uy quyền giáo huấn: toàn thể dân của Thiên Chúa, suy tư thần học và quyền giáo huấn của giám mục với vị Giáo hoàng làm đầu. Điều đó hàm ý: Chúng ta phải lắng nghe nhiều tiếng nói khác nhau bên trong Giáo hội, và phải đưa ra dẫn chiếu đặc biệt đến các phát biểu dứt khoát và tiêu chuẩn như chúng được ban hành trong Giáo hội.

– Bất cứ những gì đã được bảo vệ trong khung làm việc giáo điều của các Công đồng ban đầu của Giáo hội liên quan đến nhận thức về Nhập thể của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô phải luôn luôn được làm đầy mới mẻ với tuyên xưng về giáo huấn của Đức Kitô và hoạt động của Đức Kitô. Đức Giêsu xứ Nazareth tuyên bố vương quốc của Thiên Chúa. Theo quan điểm của cuộc sống, cái chết và phục sinh của Người, nó mời gọi việc thực hiện tiếp tục xuyên suốt lịch sử.

– Gặp gỡ Đức Kitô hằng sống đồng thời dẫn đến sự đổi mới nhận thức của chúng ta về Thiên Chúa. Vì trong Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa, Đấng hiện hữu vượt quá vũ trụ hình như trở nên không chút quan tâm đến thế giới, trở nên thành phần của và để dính líu vào thế giới. Thiên Chúa toàn năng chia sẻ trong Đức Giêsu sự yếu kém của tạo dựng và đứng về phía người nghèo khó và người yếu kém. Con người đứng trước Thiên Chúa với đôi tay mở ra và trống rỗng tìm thấy sự toàn bích và hoàn thành trong một Thiên Chúa đứng cùng phía với họ.

– Đôi tay mở ra và trống rỗng là một chủ đề cũng được sử dụng trong các tôn giáo khác. Tôi chỉ muốn nhắc lại chặng thứ 10 và cuối cùng của Mười bức tranh chăn bò (Ten Oxherding Pictures) của Thầy Trung quốc Kakuan (thế kỉ thứ 12 TCN). Từng chặng trong mười chặng bao gồm trong một bức tranh và mô tả của nó theo sau bởi nhiều bài thơ [7]. Nhan đề của chặng thư 10 thay đổi: “Đi vào thành phố với đôi tay trao tặng hân hoan” (Entering the City with Bliss-bestowing Hands) (D.T. Suzuki); “Đi vào thị tứ với đôi tay mở ra” (Entering the Market with Open Hands) (K. Tsujimura). Cảnh quang có một chút Lễ Hiện xuống khi người khai sáng đi vào nơi thị tứ:

 

Minh họa Mười bức tranh chăn bò của Thiền sư Kakuan,

chặng thứ 8. Cả con bò và người đều được siêu việt.

(Trích Google: The Ten Oxherding Pictures).

Cánh cổng túp lều của ông ấy đã đóng, và thậm chí người uyên bác nhất cũng không biết ông ấy. Chẳng có cái nhìn nào về cuộc sống nội tâm của ông ấy bị bắt gặp; vì ông ấy đi con đường riêng của mình không theo các bước của các nhà hiền triết ngày xưa. Mang một cái bầu [như là biểu tượng của sự hư vô – H.W.], ông ấy đi ra vào trong thị tứ, tựa vào một chiếc gậy [ông ấy chẳng có tài sản nào hơn nữa, vì ông ấy biết ao ước sở hữu chính là lời chúc dữ của cuộc sống con người], ông ấy về nhà. Ông được tìm thấy đồng bạn với người say sưa và người đồ tể, ông ấy và họ tất cả đều được chuyển thành các Đức Phật.

BÀI THƠ 1 (Poem 1)

Ngực trần và chân trần

Ồng ấy đi ra vào trong nơi thị tứ;

Trát bùn và tro,

Ông ấy mỉm cười toe toét!

Chẳng cần

Quyền lực huyền nhiệm của các thần chúa,

vì ông chạm đến, và kìa!

Các cây khô đều nở đầy hoa.

 

BÀI THƠ 2 (Poem 2)

Trong một cách thế thân thiện, anh chàng này đến từ một chủng tộc xa lạ.

Thỉnh thoảng khuôn mặt anh ta rõ ràng cho thấy nét đặc biệt

của con ngựa hoặc con lừa.

Nếu anh ta vung cây gậy sắt nhanh như gió –

Cánh cửa và các cánh cổng đột nhiên mở ra dư thừa và rộng rãi.

 

BÀI THƠ 3 (Poem 3)

Cây gậy sắt bật ra khỏi tay áo anh ta đâm thẳng vào mặt.

Thỉnh thoảng anh ta nói tiếng Hung (Hunnish), thỉnh thoảng tiếng Trung quốc,

với nụ cười tươi trên đôi má.

Nếu một người nhận thức được làm sao gặp gỡ chính bản ngã của mình

và thế nhưng vẫn còn xa lạ với bản ngã –

Cánh cổng lâu đài sẽ ở toang ra [8].

2. Mời mọc, không phán đoán

Chứng nhân và tuyên bố của Đức Giêsu Kitô và vương quốc của Thiên Chúa chẳng phải là phán đoán về người khác mà là một lời mời gọi mọi người lắng nghe tiếng gọi về sự cứu độ được Thiên Chúa ban cho và chấp nhận nó.

– Từ lâu, người không phải Kitô hữu đã bị phán đoán nhân danh tự nhận thức của Kitô giáo. Ngày nay, chính là ý kiến đồng thanh của Giáo hội rằng “những ai chẳng phải do lỗi lầm của chính mình không biết đến Phúc âm” có thể dẫn “theo các phương cách chỉ tự mình biết” đến đức tin (xem Ad gentes số 7; cũng xem Lumen gentium số 16). Vai trò của các tôn giáo khác nhau trong tiến trình này phải được làm sáng tỏ nhiều hơn trong thời gian tới. Trong Dominus Iesus cũng như trong khuyến cáo về Jacques Dupuis, chúng ta không chỉ tìm thấy các phát biểu chung chung về ơn gọi cứu độ của con người, mà còn các xác định về các tôn giáo. Dẫn chiếu đến Dei verbum số 11, có phát biểu trong Dominus Iesus số 8 rằng Thiên Chúa “không thất bại trong việc tự làm cho Người hiện diện theo nhiều phương cách, không chỉ với các cá thể, mà còn cho toàn thể các dân tộc qua sự phong phú tâm linh của họ, mà các tôn giáo của sự phong phú đó là cách diễn đạt chính yếu và thiết yếu.” Các nhận xét hạn chế được thêm vào “thậm chí khi chúng chứa đựng ‘các khoảng hở, thiếu sót và sai lầm’” có thể bị bỏ qua bởi vì, khi nói đến chúng, chúng ta cũng đã phải nhắc lại các lên án tương tự chống lại Kitô giáo theo quan điểm của lịch sử nữa.

– Các nỗ lực khác nhau để phân cách các phương cách khác nhau về sự hiện diện của Thiên Chúa trong lịch sử khỏi sự hiện diện của Người trong Đức Giêsu Kitô không giúp gì nhiều, bởi vì lịch sử con người là toàn thể và sự hiện diện của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô là một giai đoạn của toàn thể thực tại của lịch sử thế giới, cũng độc lập với vị thế mà một con người đơn độc nhận lấy hoặc có thể nhận lấy cách cụ thể. Bất cứ khi nào con người đưa ra quyết định trong lịch sử, họ đưa nó ra tại chân trời của sự toàn thể của nó.

– Ngược với các ấn tượng trước đây, việc làm nhân chứng và tuyên xưng Đức Kitô của người tin không bao gồm một phán đoán về tình trạng cứu độ của người không phải là Kitô hữu và về sự quan trọng của các tôn giáo khác; chúng là một lời mời gọi. Chúng ta phải nhấn mạnh đến đặc tính của lời mời gọi hơn nữa bởi vì con người được mời gọi để tự mình tự do quyết định phương cách để sống.

3. Lời mời gọi qua lại

Từng tôn giáo đích thực có xu hướng mời gọi con người qua thông điệp của nó đến con đường dẫn đến sự hoàn thành. Do đó, chúng ta phải thú nhận tính có thể được của lời mời gọi qua lại và các đánh giá qua lại.

– Một trong các tiền đề của đối thoại liên tôn giáo là ý nguyện nhìn thấy người khác theo phương cách người đó nhìn thấy chính mình và cho phép cách qua lại tính có thể được để chia sẻ với nhau bất cứ thứ gì là quí báu và giá trị đối với họ. Theo đó, lời mời gọi qua lại chính yếu phải phục vụ một sự tăng sức mạnh và xác định qua lại. Tất cả các tôn giáo đều được mời gọi để cộng tác trong việc đổi mới một thế giới khao khát giải thoát và hoàn thành theo một ý nghĩa toàn diện.

– Cộng tác không loại bỏ rằng các tôn giáo được động viên theo một phương cách khác biệt. Các động lực tự chúng cũng là các tuyên bố với nhau và đòi hỏi khảo sát lại chính cách xử lí của chúng. Cũng theo ý nghĩa này, Kitô giáo có thể đưa vào cuộc đối thoại nhận thức của nó về sự cứu độ đặt nền tảng trong Đức Giêsu Kitô.

– Kitô hữu phải chú ý rằng các sự kiện và ảnh hưởng của chúng có ý nghĩa nhiều hơn là các tính có thể được của tư duy, và rằng điều này cũng áp dụng cho con người của Đức Kitô. Với cuộc đối thoại cụ thể, quan trọng là rằng tôn giáo bao gồm trong các lập luận của chúng các sự kiện lịch sử. Bất cứ ai hành động thuận theo không phải nhấn mạnh đến một điều gì giống như các tuyên bố tuyệt đối.v.v…

– Các cuộc đối thoại về sự cứu độ không tự tàn lụi trong các cuộc tranh luận lí thuyết. Chúng phải nhận thức và tìm ra nơi đâu con người sống trong các tình huống mời gọi sự cứu vớt, giải thoát và cứu độ, và phải tìm kiếm các phương cách và phương tiện để vượt thắng chúng.

4. “Đòi hỏi sự tự do” (Gl. 5, 13)

Bởi vì đối thoại và tuyên xưng xẩy ra trong việc tự do gặp gỡ của con người, cả hai được h oàn thành bởi những con người biết chính mình được mời gọi đến với sự tự do và tự cởi mở ra cách tự do cho sự cứu độ được Thiên Chúa ban cho.

– Tự do là một trong các khía cạnh chính yếu của hiện hữu con người định đoạt sự sống con người trong chủ thuyết số nhiều của kinh nghiệm hàng ngày ngày nay. Do đó, nơi đâu con người được dấn thân vào cuộc đối thoại liên tôn giáo, họ phải làm cho tự do thành một chủ đề của việc trao đổi qua lại.

– Thậm chí nếu tự do được đánh giá cao ngày nay, các ranh giới của loài người, kể cả tự do của chúng ta, không thể bị bỏ qua. Một mặt, tự do cá thể tìm thấy ranh giới của nó trong tự do của các người khác; mặt khác, tự do như thế là một quà tặng, theo chuyên ngữ thần học: một ân sủng. Nhưng nơi đâu chúng ta nói về ân sủng, chúng ta trực tiếp hoặc ít nữa gián tiếp nói về Thiên Chúa.

– Ở điểm này, chúng ta cũng phải nhắc lại sự kiện rằng Chính thể và xã hội phải tôn trọng tự do tôn giáo của các công dân kể cả tự do của các cộng đoàn tôn giáo để điều hành cuộc sống nội tại của họ theo các nguyên tắc và luật lệ của họ [9].

– Thành phần của cuộc gặp gỡ của chúng ta với hành động giải thoát và cứu độ của Đức Kitô là chính sự dấn thân của chúng ta vào các hoạt động giải thoát trong các lãnh vực khác nhau của sự áp bức trên thế giới. Như là những người đi theo Đức Kitô, chúng ta bó buộc phải chia sẻ quan tâm của Đức Kitô với việc thực hiện vương quốc của Thiên Chúa bất cứ nơi đâu con người cần và kêu cầu giúp đỡ.

5. Trong tình đoàn kết với mọi người, cởi mở ra cho Thiên Chúa

Người tin của tất cả các tôn giáo đến với nhau gần gủi hơn khi họ cộng tác trong tình đoàn kết để giúp đỡ con người trong các nhu cầu đa dạng của họ. Nơi đâu con người liên kết trong việc nâng đỡ người khác, họ trở nên nhận biết những gì họ có thể làm, mà cũng còn các giới hạn của các điều có thể được của họ. Trong tình huống về nhu cầu, thậm chí vô số người ngày nay cần đến Thiên Chúa và tập trung lại trong lời cầu nguyện lên Thiên Chúa.

– Vào những lúc ưu phiền, nhiều người bắt đầu cùng bước đi với nhau một quãng đường; họ bắt đầu suy tư về cuộc sống của họ và hỏi con người thực sự là gì. Bời vì việc tìm kiếm con người đích thực kém là một câu hỏi về thần học mà là một đáp ứng thực tiễn về các đòi buộc và cấp bách cụ thể, đối thoại liên tôn giáo tự nó tập chú vào các cách thế cụ thể của sự cứu độ.

– Bất chấp toàn bộ dấn thân của con người, trong phân tích cuối cùng, thông điệp trung tâm của bất cứ tôn giáo nào là rằng việc cứu vớt hoàn toàn là một quà tặng thần thiêng. Do đó, người ta phải nhìn vượt quá tất cả các giới hạn và thú nhận rằng hiện hữu một trung tâm không phải con người. Rốt cùng, sự sống con người là không phải có tính nhân chủng; nó được dựa vào một nền tảng trên đó con người không còn bị hủy hoại nữa. Dĩ nhiên, sự nhấn mạnh vào cốt lõi không lấy con người làm trung tâm được chia sẻ rất nhiều bởi người ở châu Á và châu Phi.

– Nhấn mạnh vào cốt lõi không lấy con người làm trung tâm không ngăn cản chúng ta khỏi tuyên xưng rằng từ đó mạc khải và tự truyền thông đã xẩy ra, và rằng việc tự mạc khải của – Đấng mà chúng ta gọi là – Thiên Chúa cho phép chúng ta đối thoại với Người và nói về Thiên Chúa đã trở nên một Lời hữu hiệu.

– Năm 1986, Giáo hoàng Gioan Phaolô II mời các thành viên của nhiều tôn giáo khác nhau đến Assisi để cầu nguyện cho hòa bình. Vào trường hợp đó, các đại diện khác nhau đã cầu nguyện trước mặt nhau, có chủ đích là không cùng nhau. Ít nữa kể từ đó, được thảo luận liệu và trong các điều kiện nào người ta cùng nhau có thể cầu khẩn Thiên Chúa. Vị Thiên Chúa đó đã tự mạc khải mình không đơn giản chỉ để được giả định trước bởi vì chúng ta không hủy hoại được chính sự tự do của Thiên Chúa. Do đó, Kitô hữu và người tin khác nên không đơn giản cho rằng tất cả mọi người đều đi theo niềm tin Thiên Chúa đã tự mạc khải chính Người.

6. Trong im lặng và lời cầu nguyện trước Thiên Chúa hằng sống

Liệu con người của các đức tin khác nhau có thể cầu nguyện cùng nhau tùy thuộc phần lớn vào nhận thức của họ về gần gũi đến chừng nào họ sống có ý thức với Thiên Chúa là Đấng đang truyền thông với chúng ta và cho phép chúng ta đáp lại. Tuy nhiên, trong bất cứ hoàn cảnh nào, người ta có thể giữ im lặng trước và với Người.

– Người Do thái và Kitô giáo có thể cùng nhau cầu nguyện bởi vì họ chia sẻ sách kinh nguyện chung của người Do thái giáo, các Thánh vịnh, cũng đã là sách kinh nguyện của Đức Giêsu xứ Nazareth. Vô số các bản văn kinh nguyện chính thức của các Giáo hội Kitô giáo đã vay mượn từ Do thái giáo. Thậm chí trong nhịp điệu hàng tuần, chúng ta vẫn còn theo sự phân phối thời gian của người Do thái, cho dẫu đã có một thời gian dài, Chúa nhật như là ngày về sự phục sinh của Đức Kitô được xem như là ngày thứ nhất của một tuần lễ; dầu thế, thậm chí phương cách quốc tế ngày nay về việc đếm ngày Chúa nhật như là ngày thứ 7 của tuần lễ có đầy ý nghĩa nếu chúng ta xem nó như là ngày mà Thiên Chúa hoàn tất việc làm của Người.

– Nơi đâu người Hồi giáo và người Kitô giáo nhận ra trong Allah và trong “Thiên Chúa của Abraham, Isaac, và Jacob, trong Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô cùng một vị Thiên Chúa, một kinh nguyện chung đơn giản không bị loại trừ, nhưng có thể được phát triển. Còn hơn nữa, điều này cũng như vậy với người Hồi giáo, chẳng có “thần chúa nào ngoại trừ Thiên Chúa [10].”

– Thậm chí nếu hình ảnh của Thiên Chúa khác biệt trong nhiều điểm với nhận thức độc thần về Thiên Chúa, phương cách im lặng thông thường vẫn duy trì bao lâu một ai đó cởi mở ra cho Thiên Chúa vô tận và không thể hiểu được. Sự thực, phương cách về im lặng thông thường và việc thực hiện sự im lặng là các phương thức của việc mở ra và của việc tìm kiếm một chiều rộng nội tại. Ngoài ra, im lặng như được thực hành trong nhiều hình thái của chiêm niệm suy tư và trong các phụng vụ tôn giáo, thú nhận rằng con người cá thể làm tan vỡ nó và kêu la cách lớn tiếng và cách có thể nhận thức được. Khoảng không của việc gặp gỡ nội tại và ngoại tại với Thiên Chúa to lớn hơn lí trí con người có thể tưởng tượng được.

– Kitô hữu có thể nhấn mạnh đến hành động thông thường hơn của mọi người có tôn giáo trên thế giới qua đó họ đi sâu sắc hơn vào trong huyền nhiệm của Thiên Chúa, Đấng từ phía Người qua sự Nhập thể của Người trong Đức Giêsu Kitô đi vào thế giới này theo phương cách chữa lành và giải thoát. Kitô hữu phải tuyên xưng huyền nhiệm này như là một lời mời gọi khiêu khích thế giới; chúng ta chỉ phải xem xét vị trí của thập giá: Nó đã bị “phơi bày ra” (ex-posed) bên ngoài cánh cổng (Dt. 13, 12). Cách nào khác Ep. 2, 13-18 sẽ được hoàn thành?

Giờ đây trong Đức Kitô Giêsu, ai đã một lần xa lạc trở nên gần gũi nhờ máu của Đức Kitô. Vì Người là hòa bình của chúng ta, Đấng đã làm cả hai thành một và làm sập ngã tường thành chia cách của thù địch, qua thịt của Người,… và có thể hòa giải cả hai với Thiên Chúa, trong một thân xác, qua thập giá, bằng cách làm cho sự thù địch đó phải chết vì nó.

Người đã đến và rao giảng bình an cho quí vị đã xa lạc và bình an cho những ai ở gần.

Vì qua Người, chúng ta cả hai đến được với Chúa Cha trong Chúa Linh duy nhất.

Bằng cách nhìn đến Đức Giêsu xứ Nazareth bị đóng đinh thập giá, Đức Kitô trong sự yếu đuối của Người, Đức Kitô đứng về phía các người bé nhỏ, người cần thiết, người bị áp bức và người nghèo khó, Kitô hữu bị khiển trách để đối xử với những người không tin vào Người trong khi phấn đấu tìm sự cứu độ, theo một phương cách mà “thập giá của Đức Kitô có thể sẽ không bị rỗng không đi ý nghĩa của nó” (1. Cr. 1, 17). Trích dẫn từ ngữ này của Thánh Phaolô về việc tuyên xưng thập giá của Đức Kitô, tôi muốn nhắc lại xác nhận của Kosuke Koyama rằng thập giá “chẳng có quai xách.” Và tôi thêm vào những gì Aloysius Pieris nhấn mạnh xác nhận [11]:

… không thể có một Đức Kitô trừ đi Thánh giá, và ngược lại, Đức Kitô không thể vắng mặt nơi đâu Thánh được mang vác bất cứ nơi đâu trên quả đất, bất luận tôn giáo của người đang mang vác nó là gì, vì người đó là một môn đồ của Đức Giêsu.

Trong điều này có sự độc đáo của Đức Giêsu và sự độc đáo của nhiệm vụ Người giao phó cho những ai công khai tuyên bố đi theo Người.

Aloysius Pieris tự làm cho mình thành tiếng nói của những người đã mất đi tiếng nói của họ để phản đối và quyền lực để đánh trả chống lại các nổi đau khổ của họ. Tiếng nói của ông cho ra niềm hi vọng dựa trên lời hứa của Thiên Chúa đã trở thành nhìn thấy được trong Đức Giêsu xứ Nazareth, Đức Kitô trên Thánh giá. Bất cứ nơi đâu con người tìm thấy sự cứu độ trên thế giới, nó sẽ được ban cho theo quan điểm của Thánh giá. Do đó, người ta không nên ngăn cản nhau; họ nên giúp đỡ nhau nhận thức thế giới của hòa giải, tạo thành hòa bình, tìm thấy hạnh phúc và tiếp nhận tình yêu, tự do và sự cứu độ. Nơi đâu người ta không cản trở lẫn nhau mà cộng tác để mở ra các phương cách dẫn đến sự cứu độ và giải thoát, cuối cùng sẽ có sự ao ước hát lên các thánh ca tạ ơn và cùng nhau ca ngợi.

 

———————————————-

Ghi Chú

[1] Xem Brhadaranyaka Upanishads III, 9.26 (Phụ lục 2, số 1); Lão tử, Tao Te Ching (Đạo đức kinh), ch. 1 và ch. 11 (Phụ lục 2, số 3).

[2] Weltanschauung: Quan điểm chung về thế giới (nd)

[3] Conversion: Quen dịch là trở lại đạo (?) (nd)

[4] Xem A. Pieris, Fire and Water. Orbis: Maryknoll, N.Y. 1996, tr. 156.

[5] Về cuộc thảo luận Hồi giáo của vấn đề mở rộng, xem bài báo của M. Ayoub Nearest in Amity: Christians in the Qu’ran and contemporary exegetical tradition, trong I. Omar (biên tập), A Muslim View of Christianity. Orbis: Maryknoll, N.Y. 2007, tr. 187-211.

[6] Xem K. Nishitani, On the I-Thou Relationship in Zen Buddhism, trong The Eastern Buddhist [Kyoto] II/2, tr. 71; về bối cảnh Trung quốc của kōan xem The Blue Cliff Record, Thomas và J.C. Clearly biên tập. Shamala: Boulder & London 1977. Bộ II, tr. 429-433, vụ số 68 của tuyển tập (Trung quốc Pi-yen-lu; Nhật Hekiganroku)

[7] Mô tả và bài thơ thứ nhất được lấy từ bản in do D. T. Suzuki soạn, Manual of Zen Buddhism. Grove Press Inc.: New York 1960, tr. 134; bài thơ thứ hai và thứ ba từ The Ox and His Herdsman. K. Tsujimura biên tập và H. Buchner từ Thiền sư Daizōkutsu R, Ōtsu và do M.H. Trevor dịch. Hokuseido: Tokyo 1969, tr. 94.

[8] Tạm dịch. Nguyên văn: Poem 1: Bare-chested and bare-footed,/he comes out into the market place;/Daubed with mud and ashes,/How broadly he smiles!/There is no need/For the miraculous power of the gods,/For he touches, and lo!/The dead trees are in full bloom. Poem 2: In a friendly manner this fellow comes from a foreign race./From time to time his face clearly shows the traits/of the horse or of the donkey./If he flashes the iron staff as quicly as the wind—/Amply and wide suddenly opens door and gates. Poem 3: Straight into the face the iron staff springs out of his sleeve./Sometimes he speaks Hunnish, sometimes Chinese,/with a great laugh on his cheeks./If one understands how to meet one’s own self/and yet to remain unknown to the self—/The gate to the palace will open wide. (nd)

[9] Xem H. Waldenfels, The Principle of Religious Liberty and Its Impact on Society, trong pro Dialogo (Rome) sô 121 (2006/1), tr. 98-111.

[10] Xem R. Aslan, No god but God. Random House: New York 2005.

[11] Xem A. Pieris, Christ Beyond Dogma. Doing Christology in the Context of Religion and the Poor, trong Louvain Studies 25 (2000), tr. 182-231; trích dẫn tr. 223 tiếp và 220. Xem đáp trả của tôi Chương 3 cc. 18; và H. Waldenfels, Gott Auf der suche dem Lebensgrund. Benno: Leipzig in lần 2 1997, tr. 63-72.

 

Thần Học Các Tôn Giáo