Kitô giáo xuất hiện ở châu Phi từ thế kỷ II-IV. Ngày nay, thế hệ theo nghi lễ Copte này vẫn sống còn ở Ai Cập và Ethiopie. Vào thế kỷ VII, Kitô giáo châu Phi bước sang giai đoạn thoái trào trước sức tấn công của Hồi Giáo.
Gia Minh
LTS: Người ta vẫn thường gọi họ là “Các Giáo Hội châu Phi độc lập” hay “Các Giáo Hội Kitô giáo châu Phi”. Họ cũng nhìn nhận Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa, khẳng định tính cách châu Phi nhưng loại bỏ sự chi phối của chính trị và của những Giáo Hội mẹ (Công Giáo và Tin Lành). Mặc dù cơ cấu ngày càng bền chắc nhưng nhiều Giáo Hội quy tụ lại quanh ARM (Alliance réformée mondiale) hay OAIC (Organization of African Institude Churches), còn số khác là thành viên của Conseil oecuménique des Églises (COE). Ngày nay 50% số Kitô hữu ở châu Phi thuộc các Giáo Hội này.[1]
***
Màu trắng, màu thanh khiết, thường chiếm vị trí độc tôn. Ngoài ra còn có những màu sáng khác như lục, vàng, lam. Các tín hữu mặc áo váy trắng dài, đầu quấn khăn (đối với phụ nữ), họ cầu nguyện và hát vang những bài thánh ca bằng thứ ngôn ngữ của phương Tây đã Phi hóa. Trong ngôi thánh đường trống trải, dưới mái lều hay giữa trời, họ vỗ tay, đi chân đất và múa nhảy theo nhịp trống hay tiếng kèn. Người điều khiển ban nhạc là một thừa tác viên, tay cầm cây thập giá (biểu tượng của ơn cứu độ) hoặc cây gậy (nếu không có thập giá). Trống và thập giá, tính cách châu Phi và Kitô giáo, hai yếu tố nền tảng này hòa quyện vào nhau tạo nên Kitô giáo châu Phi. Với chủ trương tổng hợp đầy năng động và sáng tạo này, những yếu tố trên giải thích lại niềm tin Kitô giáo do thực dân mang đến và thích nghi với những giá trị văn hóa châu Phi.
1. Nguồn gốc
Kitô giáo xuất hiện ở châu Phi từ thế kỷ II-IV. Ngày nay, thế hệ theo nghi lễ Copte này vẫn sống còn ở Ai Cập và Ethiopie. Vào thế kỷ VII, Kitô giáo châu Phi bước sang giai đoạn thoái trào trước sức tấn công của Hồi Giáo. Mãi đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, các Giáo Hội Kitô giáo châu Phi mới nổi lên để phản ứng lại với những nỗ lực loan báo Tin Mừng của các nhà truyền giáo theo chân các đoàn quân viễn chinh châu Âu. Cho đến thập niên 1960, trước khi các nước châu Phi giành được độc lập, các Giáo Hội Kitô giáo châu Phi phát triển mạnh mẽ nhất thế giới Kitô giáo. Từ đó, các Giáo Hội này không ngừng tăng trưởng. Nhưng từ thập niên 1980, châu Phi chứng kiến một phong trào tôn giáo đang cất cánh: các “Giáo Hội Ngũ Tuần” chịu ảnh hưởng của Hoa Kỳ đang dần dần thay thế cho các Giáo Hội Kitô giáo châu Phi.
2. Nghi lễ và thực hành
Ở Nigeria có Giáo Hội Aladura, Cote-d’Ivoire hay Congo có Giáo Hội Kinshasa, còn ở Nam Phi và các cộng đồng châu Phi ly hương là thành viên của các Giáo Hội châu Phi độc lập, thường quy tụ vào mỗi dịp nghỉ cuối tuần. Trong lời cầu nguyện, họ bày tỏ những ước nguyện rất cụ thể như xin được sức khoẻ dồi dào, con cái đông đúc. Việc thỉnh cầu các pháp sư hay dùng ma thuật, thậm chí cả những vũ điệu truyền thống cũng đều bị xem là tà giáo và bị cấm chỉ. Nhưng việc chữa bệnh, đã ăn sâu vào truyền thống tâm linh châu Phi, vẫn là những phút giây chính yếu trong phụng vụ, ngay cả khi diễn ra ngoài những nơi thờ phượng, chẳng hạn như tại tư gia. Cộng đoàn càng sốt sắng trong kinh nguyện bao nhiêu, Chúa Thánh Linh càng dễ hiện diện và việc chữa trị càng có nhiều cơ may được thực hiện.
Việc chữa bệnh thường do vị mục tử hay ngôn sứ chủ trì, có khi hai chức danh này chỉ là một người. Để xua đổi những đau đớn trong thể lý hay tâm linh, vị này đặt tay lên người tín hữu hay đôi khi dùng một chiếc đũa. Lúc đó người bệnh khóc lóc, run rẩy, ngã gục hay xuất thần. Khi tỉnh dậy, người ấy đã được chữa lành và giải thoát khỏi tà thần. Biện pháp khác không kém phần quan trọng để chữa lành là thanh tẩy bằng cách dìm vào nước (đầm, hồ, sông, biển hay hồ bơi) hoặc tắm nước thánh do vị thầy tâm linh làm phép. Việc chữa trị có thể được thực hiện bằng những nghi thức thể hiện hành động thiên linh, nhân danh Đức Kitô (đen) và qua quyền năng của Chúa Thánh Linh. Hình thức này có thể xua đuổi được tà thần ám hại. Vì vậy Thiên Chúa không phải Đấng xa vời. Người hiện hữu rất sinh động, luôn quan tâm đến những gì làm cho con người bận tâm lo lắng, và Người dùng Thánh Linh của Người để thấu nhập vào cộng đồng tín hữu.
Tầm quan trọng của nước thể hiện qua việc làm phép rửa bằng cách dìm mình. Thông thường, các tín hữu chỉ được rửa tội một lần lúc còn nhỏ, khi đã ý thức được tốt xấu. Và họ cũng được lãnh nhận Chúa Thánh Thần, được rửa sạch mọi tội lỗi nhờ hy tế của Đức Kitô để bước vào đời sống mới. Trước khi cử hành phép Thánh tẩy hay Thánh thể phải xưng thú hết mọi tội lỗi và theo những nghi thức của Kitô giáo châu Phi – càng tốt hơn nếu thích ứng với những nghi lễ truyền thống như dìm vào dòng sông Sự sống sau khi cắt bì. Đôi khi phép Thánh tẩy và Thánh thể phục vụ cho những nghi thức thanh tẩy. Vì vậy người tín hữu thường được rửa tội nhiều lần trong đời nếu người ấy cảm thấy có nhu cầu hoặc gặp điềm báo mộng bảo thực hiện. Lặp lại phép rửa sẽ tích luỹ được khả năng chữa trị và được cứu chuộc nhờ nghi thức này.
Ngoài ra, người tín hữu thường tuân giữ những ràng buộc nghiêm ngặt về ẩm thực được nói đến trong Thánh Kinh như không ăn thịt heo – Đức Giêsu đuổi thần ô uế và cho chúng nhập vào đàn heo (x. Mc 5,9-13), thậm chí còn kiêng cả rượu bia và thuốc lá. Ngoại tình bị lên án, nhưng chuyện đa thê lại được chấp nhận. Hơn nữa, chẳng có gì phi lý hơn chuyện các vị thầy tâm linh cũng có thể cưới một lúc nhiều vợ như các đồ đệ của mình! Chuyện đa thê có nền tảng Thánh Kinh hẳn hoi, vua Salomon chẳng cưới hàng trăm bà vợ đó là gì? (x. 1V 11,3).
Toàn bộ đời sống Giáo Hội diễn ra quanh vị ngôn sứ (nhiều vị từ chối cách gọi này), vị thầy tâm linh này cũng là người chữa trị bệnh tật và là trung gian giữa Thiên Chúa với cộng đoàn tín hữu. Chức vụ ngôn sứ, được xem là tặng vật của Thiên Chúa hơn là một tác vụ, đạt đến cực điểm trong các thánh lễ đêm. Các đệ tử thường đến với vị ngôn sứ để thổ lộ tâm tình và xin những lời khuyên bảo. Vì vậy, ngôn sứ không chỉ có vai trò truyền bá Tin Mừng của Đức Kitô nhưng còn thông đạt ý muốn của Thiên Chúa. Chính vị này thực hiện những chẩn đoán, xác định những vấn nạn về quá khứ và tội lỗi của mỗi người thường được mạc khải tư qua giấc mơ hay điều thiên cảm. Đồng thời ông cũng chỉ định những biện pháp chữa trị cần thiết. Vì mang trọng trách đó, ngôn sứ phải làm chứng bằng đời sống và tôn trọng những giáo huấn của Giáo Hội.
Ngôn sứ và mục tử thường có ảnh hưởng lớn trong đời sống cộng đoàn nhưng họ không nhất thiết phải học thần học. Việc học này có thể diễn ra không chính thức xung quanh những cuộc thảo luận hay đọc Thánh Kinh. Sau đó, vị thầy tâm linh được phong chức. Chẳng hạn ở Giáo Hội Shembe (Nam Phi), lễ phong chức bằng việc xức dầu thánh diễn ra sau cuộc hành hương lên núi thánh Nhlangakazi. Mỗi vị chọn cho mình một hòn đá trên núi tượng trưng cho lời khấn hứa. Trong những trường hợp khác, các thành viên thuộc phẩm trật này được chọn trong Hội nghị thường niên của Giáo Hội. Cũng có khi chức vụ của họ do cha truyền con nối.
3. Các tín điều
Trong nhiều Giáo Hội, vị ngôn sứ cũng diễn đạt ý muốn của tổ tiên, tức linh hồn của những thành viên trong bộ tộc đã khuất núi. Vì họ thuộc về thế giới linh thiêng, đúng hơn là ở thiên đàng, nên họ rất gần gũi với Thiên Chúa. Vì vậy họ có thể chuyển đạt những thông điệp của Thiên Chúa cho người sống, chủ yếu cho các ngôn sứ qua giấc ngủ hay điều thiên cảm. Người ta có thể dâng một con dê hay một con bò cho tổ tiên để các vị này thay mặt người sống tạ ơn Thiên Chúa. Thay vào đó, khi cử hành Thánh Thể đặc biệt, người ta cầu xin Thiên Chúa để biến các lễ vật thành thịt máu Đức Kitô. Việc tưởng niệm Đức Kitô kéo theo việc tưởng nhớ tổ tiên. Và hơn nữa, vì là con Thiên Chúa, Đức Giêsu cũng có thể đóng vai trò tổ tiên nguyên khởi. Về vấn đề này, nhiều Giáo Hội vẫn còn giữ vị trí nước đôi. Các tín hữu phái Kimbangu cho rằng, tổ tiên không hề hiện hữu và Kitô giáo không cần các vị trung gian. Thế nhưng, đôi khi họ lại kêu cầu, bằng lời cầu nguyện, với đấng sáng lập là Simon Kimbagu – đã quy tiên – để vị này biện hộ cho người tín hữu trước Đức Kitô.
Như thế, giấc mơ chiếm vị trí trung tâm trong đời sống tín ngưỡng Kitô giáo châu Phi, vì qua đó Thiên Chúa tỏ mình cho các ngôn sứ cũng như cho các tín hữu. Quan niệm này, mặc dù có thể được diễn tả như một nét văn hóa nào đó, nhưng có nguồn gốc từ Thánh Kinh. Chẳng hạn như thiên thần Chúa hiện ra với thánh Giuse trong giấc mộng để động viên người nhận Đức Maria làm vợ (x. Mt 1,18-24). Trong các Giáo Hội Kitô giáo châu Phi, những bài thánh ca nếu không vay mượn trực tiếp từ phụng vụ phương Tây hay âm nhạc truyền thống châu Phi, đều ra đời trong giấc mơ, đôi khi trong ca từ có những màu sắc khuyên người ta phải mặc để chữa bệnh này hay bệnh khác.
Dù có cho tổ tiên vào trong số những tín điều hay không, thì chính Thiên Chúa của Kitô giáo mới là chủ tể. Quan niệm độc thần này dễ dàng thích ứng với các giá trị châu Phi: các tín ngưỡng truyền thống nhìn nhận có Đấng Tối Cao, dù rằng Người rất xa vời và không ai có thể chạm đến được. Còn về Thiên Chúa Ba Ngôi, các Giáo Hội Kitô giáo châu Phi đặc biệt nhấn mạnh đến tầm quan trọng của Chúa Thánh Thần. Người là trung tâm của niềm tin cũng như lối sống, vì Người ngự trong cả tâm hồn lẫn thân xác con người. Chính Người linh hứng cho các ngôn sứ, mạc khải và ban quyền chữa bệnh cho các vị này, thậm chí cả ơn nói tiếng lạ là những ngôn ngữ huyền bí mà người trần mắt thịt không thể hiểu được. Chúa Thánh Linh hướng dẫn đời sống và lễ nghi của Giáo Hội, vì vậy đôi khi các Giáo Hội Kitô giáo châu Phi được gọi là Giáo Hội “Ngũ Tuần”.
Thế giới là cuộc chiến không ngừng giữa các thế lực của Thiện và Ác. Nhưng Đức Giêsu luôn chế ngự được sức mạnh của Ác thần, do vậy phải tôn vinh Người bằng lời cầu nguyện. Chính Đức Giêsu cứu độ các tín hữu và giải thoát họ khỏi mọi tội lỗi, ma quỷ, bệnh tật và những bất hạnh khác, vốn là sản phẩm của Satan và phù thủy. Niềm tin vào Đức Kitô cùng lời cầu nguyện, đôi khi cả việc chay tịnh, sám hối, thực hành những quy tắc của Giáo Hội và lời giảng dạy của những vị thầy hướng dẫn tâm linh: bấy nhiêu điều ấy có thể cứu rỗi linh hồn. Ơn cứu độ chắc chắn có ở thế giới bên kia, nhưng ngay tại đây và chính lúc này, trên trái đất, con người cũng có thể nhận được ơn này nhờ trừ tà và được chữa lành bệnh tật.
4. Truyền thống thành văn và truyền khẩu
Vì giải thích Thánh Kinh theo nghĩa đen, nên các Giáo Hội Kitô giáo châu Phi quan niệm công trình Sáng Tạo là thành quả của sáu ngày Thiên Chúa làm việc. Thiên Chúa, Đấng nghỉ ngơi vào ngày thứ bảy là Chúa Tể của sự sống và cả vũ trụ. Các Giáo Hội Kitô giáo châu Phi giảng dạy Thánh Kinh từ Adam, Eva cho đến ngày tận thế. Nhiều vị thầy tâm linh rao truyền thông điệp của Đấng Messiah với lời hứa về một thế giới tốt đẹp hơn. Chẳng hạn, William Wade Harris (xuất thân từ Tây Phi) rao giảng rằng, khi Đức Kitô xuất hiện trong tương lai, Người sẽ trừng phạt những kẻ chối bỏ các ngôn sứ hay khinh thường giáo huấn của các vị ấy.
Thánh Kinh, dù theo nghĩa văn tự, đều được giải thích lại trong bối cảnh châu Phi. Vì vậy, dù không liên hệ gì đến Do Thái giáo, nhưng nhiều Giáo Hội vẫn tự đồng hóa mình với dân tộc Israel trong Cựu ước. Họ nghỉ ngày thứ bảy, được gọi là ngày Sabbat như trong Cựu ước chứ không phải là Chúa Nhật. Và vai trò của vị ngôn sứ tựa như vai trò của ông Môsê: diệt trừ mọi áp bức khỏi dân tộc mình để đạt tới Đất hứa. Israel mới hóa thân vào châu Phi và Sion (hay Zion), thành thánh “Jéruselem mới”, ngự giữa lòng Giáo Hội.
Thánh Kinh (Cựu ước và Tân ước), lời của Thiên Chúa được dịch ra hơn 60 ngôn ngữ châu Phi khác nhau, vẫn là nguồn thẩm quyền tối hậu. Thánh Kinh làm nền tảng cho các tác vụ để rao giảng. Sách Thánh là chỗ dựa để hợp thức hóa những nghi lễ và các nguyên tắc. Chúa Thánh Linh ngỏ lời cùng cộng đoàn tín hữu qua Thánh Kinh. Đồng thời, truyền thống truyền khẩu còn giữ vị trí của mình trong chiều hướng mà thánh thi, thậm chí cả thần học, không thể hệ thống hóa bằng chữ viết và vẫn có khả năng tăng tiến. Thánh Kinh là cuốn sách để hướng dẫn đời sống hơn là làm đề tài học hỏi.
– Chuyển ý từ Actualité des Religions, 9/2002
[1] Sinh ra trong gia đình Chính Thống giáo, qua một bà dì, Skhura Yani được đắm mình trong thế giới của các Giáo Hội Kitô giáo châu Phi ngay từ nhỏ. Năm nay Yani đã 31 tuổi, anh đã từng học thần học tại Đại học Witwatersrand (Nam Phi) và hiện nay bắt đầu viết những vở kịch lấy cảm hứng từ các nghi lễ và niềm tin của các Giáo Hội châu Phi độc lập. Bài viết này thực hiện theo sự hướng dẫn của Skhura Yani.
