Đón tiếp Đức Thánh Cha tại phi trường có Đức Tổng Giám Mục Celestino Migliore, Sứ Thần Tòa Thánh tại Ba Lan, Tổng thống Ba Lan ông Andreij Duda và phu nhân, Đức Hồng Y Stanislaw Dziwicz, Tổng Giám Mục Cracovia, và vài giới chức chính quyền.
Lm. Giuse Trần Đức Anh, OP.
VATICAN. Thứ Tư, ngày 27 tháng 7, lúc 13 giờ trưa, giờ Roma, Đức Thánh Cha Phanxicô đã rời nhà trọ Santa Marta để đi xe ra phi trường Fiumicino, lên máy bay đi Cracovia, Ba Lan. Như thói quen chiều thứ ba trước đó, Đức Thánh Cha đã đến đền thờ Đức Bà Cả để cầu nguyện trước ảnh Đức Bà là sự cứu rỗi của dân Roma, để phó thác chuyến tông du cho sự chở che của Đức Mẹ. Ngài cũng cầu nguyện trước thi hài thánh Gioan Phaolô II.
Tiễn chân Đức Thánh Cha tại phi trường có Đức Cha Gino Reali, Giám mục Porto-Santa Rufina, bao gồm cả phi trường Fiumicino. Máy bay đã cất cánh lúc 14 giờ và tới phi trường Gioan Phaolô II Balice (Balitse) sau hai giờ bay vượt đoạn đường dài 1.100 cây số (Balice cách thành phố Cracovia 11 cây số, cho tới năm 1968 đã là căn cứ quân sự, sau đó trở thành phi trường dân sự và năm 1995 mang tên Đức Gioan Phaolô II, nguyên Tổng Giám Mục Cracovia từ năm 1963 tới 1978). Khi bay ngang qua không phận các nước Italia, Croazia, Slovenia, Áo Slovacchia Đức Thánh Cha đã gửi điện tín chào thăm các vị quốc trưởng và cầu chúc an bình thịnh vượng cho nhân dân các nước này.
Họp báo trên máy bay
Trong chuyến bay dài gần hai tiếng đồng hồ từ Roma tới Cracovia, Ba Lan, Cha Lombardi, Giám đốc phòng báo chí Tòa Thánh, đã xin Đức Thánh Cha bình luận về vụ cha Jacques Hamel, 86 tuổi, bị hai tên khủng bố Hồi giáo sát hại trong một thánh đường miền Normandie, Tây Bắc Pháp, trong lúc dâng lễ, Đức Thánh Cha nhận định rằng: “Vị linh mục thánh thiện này bị sát hại ngay trong lúc dâng lễ cầu nguyện cho hòa bình. Cha là một, nhưng có bao nhiêu Kitô hữu, bao nhiêu người vô tội, bao nhiêu trẻ em cũng bị giết… Chúng ta hãy nghĩ đến Nigeria chẳng hạn. Chúng ta nói: nhưng đó là Phi châu! Chúng ta đang ở trong chiến tranh, chúng ta đừng sợ nói lên sự thật ấy, thế giới ở trong chiến tranh vì đã mất hòa bình”.
Đức Thánh Cha đặc biệt nghĩ đến những người trẻ đang tham dự Ngày Quốc tế giới trẻ và nói: “Tuổi trẻ luôn nói với chúng ta về hy vọng. Chúng ta hy vọng rằng người trẻ nói với chúng ta là có nhiều hy vọng hơn một chút trong lúc này”.
Đức Thánh Cha cũng cám ơn những người đã chia buồn với ngài về vụ vị linh mục bị giết, đặc biệt là những lời chia buồn của Tổng thống Francois Hollande của Pháp, như một người anh em.
Sau khi chào thăm tất cả 75 ký giả tháp tùng, Đức Thánh Cha chia sẻ rằng: “Tôi muốn nói thêm một lời để minh định: khi tôi nói về chiến tranh, tôi muốn hiểu đó là chiến tranh thựrc sự, chứ không phải là chiến tranh tôn giáo. Tôi nói về những cuộc chiến tranh vì quyền lợi, vì tiền bạc, về những tài nguyên thiên nhiên, vì muốn thống trị các dân tộc,… Tôi không nói về chiến tranh tôn giáo. Tất cả các tôn giáo đều muốn hòa bình. Chiến tranh là điều mà những người khác muốn, anh chị em có hiểu không!”.


Nghi lễ đón tiếp Đức Thánh Cha tại phi trường
Đón tiếp Đức Thánh Cha tại phi trường có Đức Tổng Giám Mục Celestino Migliore, Sứ Thần Tòa Thánh tại Ba Lan, Tổng thống Ba Lan ông Andreij Duda và phu nhân, Đức Hồng Y Stanislaw Dziwicz, Tổng Giám Mục Cracovia, và vài giới chức chính quyền. Ngoài ra cũng có Đức Cha Stanislaw Gadecki, Tổng Giám Mục Posnan, Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Ba Lan, Đức Hồng Y Stanislaw Rylko chủ tịch Hội Đồng Tòa Thánh về Giáo Dân, Đức Hồng Y Kazimie Nycz, Tổng Giám Mục Varsava, Đức Cha Joseph Clemens Thư ký hội đồng, hai Đức Ông Grzegorz Mizinski và Damian Andreij Muskus, phối hợp viên Ngày Quốc Tế Giới Trẻ và một nhóm tín hữu. Hai em bé đã tặng hoa cho Đức Thánh Cha.
Lễ nghi tiếp đón đã rất đơn sơ, sau khi ban nhạc cử quốc thiều Vatican và quốc thiều Ba Lan, Đức Thánh Cha và Tổng Thống duyệt qua hàng chào danh dự, rồi giới thiệu phái đoàn hai bên. Tiếp đến Tổng Thống và phu nhân đã tháp tùng Đức Thánh Cha ra xe để đến lâu đài Wawel, dinh thự và cũng là phủ Tổng Thống, nơi diễn ra cuộc gặp gỡ với các giới chức chính trị, xã hội dân sự và ngoại giao đoàn.















Đôi điều về quốc gia Cộng Hòa Ba Lan
Ba Lan rộng hơn 323 ngàn cây số vuông, giáp giới với biển Baltic, Nga, Lituania, Bielorussia, Ucraina, Slovacchia, Cộng hòa Tcheques và Đức, có hơn 37 triệu dân, trong đó có 97,68% theo Công Giáo. Từ năm 1947 Ba Lan thuộc khối cộng sản Varsava. Năm 1987 dưới sức đẩy của công đoàn liên đới Solidarnos Ba Lan tiến tới nền dân chủ và đảng đối lập thắng lớn trong các cuộc bầu cử bán tự do ngày mùng 4 và 18 tháng 6 năm 1989. Từ đó đến nay các chính quyền liên minh trung hữu và trung tả thay đổi nhau cai trị nước này. Năm 2004 Ba Lan là quốc gia thành viên của Liên Hiệp Âu châu.
Giáo Hội Công Giáo đâm rễ rất sâu trên đất Ba Lan và nắm giữ vai trò nòng cốt trong cuộc sống xã hội, khiến cho Ba Lan là trường hợp duy nhất bên Đông Âu cũng như trong toàn Âu châu. Sức sinh động ấy đuợc biểu lộ trong thời cộng sản, khi nhà nước thăng tiến chủ thuyết vô thần, và Giáo Hội tự khẳng định như một trong các cơ cấu tự vệ của xã hội dân sự chống lại sự đàn áp của chính quyền cộng sản vô thần. Các làn sóng đàn áp của nhà nước chẳng những đã không làm cho Giáo Hội suy yếu, mà lại củng cố Giáo Hội tới độ nhà nước phải chấp nhận giàn xếp với Giáo Hội, cho phép một thực tại nhị nguyên duy nhất trong toàn khối cộng sản Liên xô.
Hiện nay Giáo Hội có 45 Giáo phận với 10.379 giáo xứ và 786 trung tâm mục vụ. Nhân lực của Giáo Hội gồm 156 Giám Mục, 23.656 linh mục Giáo phận, hơn 7.000 linh mục dòng, tổng cộng là 30.661 vị, 38 phó tế vĩnh viễn, 1.015 tu huynh, 20.159 nữ tu, hơn 1.075 thành viên các tu hội đời, 14.154 giáo lý viên, 3.388 dại chủng sinh. Giáo Hội điều khiển 1.425 cơ sở giáo dục và 5.319 trung tâm bác ái xã hội.
Trong 25 năm qua, từ khi chế độ cộng sản sụp đổ cho tới nay, Giáo Hội vẫn tiếp tục có uy tín rất lớn trong xã hội Ba Lan. Nền dân chủ đã mở ra các cơ may mới, nhưng cũng bao gồm các thách đố mục vụ lớn. Nó đã cho phép Giáo Hội có được các không gian và sự tự do hoạt động trong các lãnh vực xã hội như giáo dục, bác ái xã hội và lên tiếng trong cuộc sống công cộng phù hợp với nguyên tắc “tự trị độc lập” và “tách biệt thân hữu”, được chấp thuận trong Thỏa hiệp mới ký kết với Tòa Thánh năm 1993 và trong Hiến Pháp năm 1997. Ngoài gốc rễ Công Giáo sâu đậm khiến cho Ba Lan là quốc gia duy nhất toàn Âu châu có đông tín hữu thực hành đạo nhất với 91,% tổng số dân tuyên bố tin vào Thiên Chúa, và 2.9% tuyên bố mình vô thần. 48% tín hữu thường xuyên đến nhà thờ và 39% tham dự thánh lễ Chúa Nhật. Trong các năm 1991-2010 số tín hữu sống đạo sâu đậm gia tăng tử 10 lên 20 %. Tín hữu Ba Lan rất có lòng sùng kính Đức Mẹ. Hằng năm có 7 triệu người hành hương đến các đền thánh Đức Mẹ đặc biệt có 4,5 triệu người hành hương đền thánh Đức Bà Jasna Gora, và 2,5 triệu hành hương đền thánh Lòng Thương Xót Chúa Lagiewniki. Lòng đạo đức khiến cho số ơn gọi linh mục tu sĩ tại Ba Lan cao nhất Âu châu. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng dân số khiến cho số chủng sinh Giáo phận giảm sút trong hai thập niên qua, từ 5.436 còn 2.959 tức giảm 45%, trong khi số nam tu sĩ giảm từ 2.636 xuống 882, tức giảm 67%. Tuy phong trào tục hóa tại Ba Lan không mạnh như tại các quốc gia âu châu khác, nhưng cũng là một thách đố đối với giới trẻ, bị ảnh hưởng bởi một thái độ sống không phân định, chạy theo các mốt văn hoá thời thượng tiêu cực thịnh hành bên Tây phương. Vì thế Giáo Hội rất chú ý tới mục vụ và việc giáo dục giới trẻ sống đức tin. Ngoài ra Giáo Hội cũng dấn thân trong nỗ lực hoà giải các dân tộc Trung Âu và Đông Âu, chữa lành các vết thương lịch sử, đối thoại đại kết và liên tôn.


