✉ hylecuoicung@gmail.comTrang thông tin Huấn Giáo

Bài Giảng Lễ Khai Mạc Kim Khánh Thành Lập Tỉnh Dòng Đaminh Việt Nam

Cũng như đối với các môn học khác, có nhiều lối tiếp cận môn Thánh-Phụ-học. Trước kia, dựa theo lối tiếp cận suy diễn của thần học Kinh viện, người ta khởi đi từ một chân lý mặc khải (đại tiền đề)

Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP.

 

Tại các Chủng viện và Học viện, có dạy môn Kitô-học (luận về Đức Kitô: Christologia), Thánh-Mẫu-học (luận về Đức Maria: Mariologia), nhưng môn Thánh-Phụ-học (luận về Thánh Giuse: Josephologia) thì hoàn toàn xa lạ, và vì thế không đào tạo được chuyên gia. Có lẽ đó là lý do tôi được mời chia sẻ nhân dịp lễ Thánh Giuse năm nay.

Cũng như đối với các môn học khác, có nhiều lối tiếp cận môn Thánh-Phụ-học. Trước kia, dựa theo lối tiếp cận suy diễn của thần học Kinh viện, người ta khởi đi từ một chân lý mặc khải (đại tiền đề), rồi từ đó rút ra những kết luận hàm ngụ trong đó. Thí dụ như luận đề sau đây: “Thánh Giuse làm nghề thợ mộc; bác thợ mộc đi đóng bàn, đóng ghế, đóng giường, đóng tủ… và tòa giải tội; vì vậy, nhân lễ Thánh Giuse, xin mời anh chị em hãy đến tòa giải tội lãnh ơn tha thứ”. Đừng vội trách là kết luận lạc đề, bởi vì nó rất hiện thực trong Năm Thánh ngoại thường “Lòng Chúa Thương Xót”, và đặc biệt là việc cử hành long trọng Bí tích Giao Hòa.

Điều mà tôi sắp trình bày thoạt tiên xem ra lạc đề, nhưng xin anh chị em hãy bình tĩnh, rồi sẽ thấy ăn khớp với các bài đọc Sách Thánh mà chúng ta vừa nghe. Luận đề như thế này: “Thánh Giuse là bạn trăm năm của Đức Maria. Thánh Giuse rất yêu mến Mẹ Maria. Vì thế nhân dịp lễ Thánh Giuse, chúng ta hãy tỏ lòng kính mến Đức Maria”. Để khỏi hiểu lầm, thiết tưởng cần ôn lại vài chi tiết lịch sử. Tỉnh Dòng Đaminh Việt Nam được thành lập ngày 18 tháng 3 năm 1967, nhân lễ kính Thánh Giuse, bởi vì năm ấy, ngày 19 tháng 3 trùng vào Chúa Nhật Lễ Lá, vì thế được dời lên ngày thứ 7 hôm trước (tức là 18 tháng 3). Năm nay, chúng ta khai mạc Năm Thánh của Tỉnh Dòng vào ngày 18 tháng 3 vì một lý do khác, đó là ngày 19 tháng 3 sẽ là lễ khánh thành Trung Tâm Mục Vụ Martino, với sự tham dự của nhiều thành phần Dân Chúa. Vì vậy, ngày hôm nay chúng ta muốn dành một buổi lễ mang tính cách gia đình hơn. May thay, do một sự trùng hợp tình cờ, hôm nay cũng là một lễ lớn trong Tỉnh Dòng: lễ Đức Mẹ Sầu Bi, Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo, trước đây được mừng vào ngày thứ 6 tuần Thương Khó (nghĩa là trước Chúa Nhật Lễ Lá). Sau khi Tỉnh Dòng vừa thành lập, Cha Giám Tỉnh và Ban Cố Vấn đã xin Tòa Thánh được phép cử hành lễ “Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo” vào ngày này, và thỉnh nguyện đã được Bộ Nghi Lễ chấp thuận do sắc lệnh ngày 29/12/1967. Lễ kính các sự đau khổ của Đức Maria đã bắt nguồn từ thế kỷ XV, khi một Công Đồng địa phương ở Cologne thiết lập lễ vào thứ 6 tuần thứ Ba Phục Sinh. Dần dần, lễ này được mở rộng ra toàn thể Hội Thánh, tuy được cử hành vào những ngày khác nhau trong năm tùy theo phong tục địa phương. Đức Thánh Cha Benedicto XIII, vào ngày 22/4/1727, đã ấn định vào ngày thứ 6 tuần Thương Khó. Gần 100 năm sau, ngày 18/9/1814, Đức Thánh Cha Piô VII ghi thêm vào lịch phụng vụ một ngày khác nữa, ngày 15 tháng 9, sau lễ Suy Tôn Thánh Giá, để kính Đức Mẹ Sầu Bi. Cuộc cải tổ lịch phụng vụ sau Công Đồng Vatican II vào năm 1969, chỉ còn duy trì lễ ngày 15/9, và bỏ ngày lễ thứ 6 tuần Thương Khó (cũng cần lưu ý rằng, trước đây, Tuần Thương Khó bắt đầu vào tuần thứ 5 Mùa Chay; còn ngày nay bắt đầu với Tuần Thánh). Trong bối cảnh ấy, Tỉnh Hội năm 1985 đã xin dời lễ Bổn Mạng Tỉnh Dòng sang ngày 15/9;[1] Cha Tổng Quyền Damian Byrne, O.P. đã chấp thuận trong văn thư ngày 23/1/1986. Như vậy, Tỉnh Dòng đã cử hành hơn kém 20 lần lễ Bổn Mạng vào thứ 6 trước Lễ Lá, và suýt soát 30 lần vào ngày 15 tháng 9.

Chúng ta đã nhiều lần nghe giảng về ý nghĩa lễ Đức Mẹ Sầu Bi, đặc biệt khi chú giải bài ca tiếp liên “Stabat mater dolorosa” (tục truyền do Cha Jacopone de Todi sáng tác vào thế kỷ XIII), được Cha Kim Long diễn ý qua bài hát: “Mẹ đứng đó tâm hồn tê tái sầu…”. Biết bao nhiêu bài suy niệm đã được viết về những đau khổ của Đức Maria khi đứng kề bên thập giá, tột đỉnh của những nỗi đau khổ, được tóm lại trong chuỗi kính 7 sự đau đớn. Bằng sự chia sẻ những đau khổ của Chúa Giêsu, Mẹ đã góp phần vô song vào công cuộc cứu chuộc nhân loại: Mẹ “đồng công cứu chuộc”. Mẹ cũng nêu tấm gương can đảm chấp nhận những khổ đau vì lòng mến Chúa, vì thế được tôn kính như “Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo”. Chắc chắn, các vị Tử Đạo Việt Nam đã nhận được sức mạnh nhờ lời chuyển cầu của Mẹ để chịu đựng những cực hình và kể cả cái chết vì đức tin.

Tuy nhiên, thưa anh chị em, tôi xin mời anh chị em hãy suy niệm sâu xa hơn về những đau khổ của Đức Maria. Chúng ta biết rồi: Mẹ không đau khổ về thể lý giống như Chúa Giêsu, nhưng Mẹ đã đau khổ về tinh thần, khi thấy Con yêu dấu của mình chịu những cực hình dã man, và nhất là vì biết rằng người Con của mình là kẻ thánh thiện vô tội, khi biết rằng người Con của mình là Con Đức Chúa Trời. Dù vậy, còn những nỗi đau khổ khác mà chúng ta không dám mường tượng vì sợ vô phép, nếu không có những vị Giáo hoàng đã dám mở đường. Tôi muốn nói đến sự thử thách của Đức Maria về đức tin, dựa theo giáo huấn của thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong Thông điệp Thân Mẫu Đấng Cứu Thế, và thử thách về đức cậy, dựa theo Thông điệp Spe Salvi của Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI.

Thánh Gioan Phaolô II đã trình bày cuộc đời Đức Maria như một hành trình đức tin, trải qua bao nhiêu thử thách mà tột đỉnh là cái chết của con mình trên thập giá. Thật vậy, hẳn tất cả chúng ta còn nhớ những lời của thiên sứ Gabriel nói với Đức Maria trong ngày Truyền tin: “Bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai… Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đavit…, triều đại của Người sẽ vô cùng tận” (Lc 1,30-32). Qua những lời ấy, thiên sứ muốn nói đến tương lai huy hoàng của Đức Giêsu: Người sẽ ngự trên ngai vua Đavit, theo như lời tiên tri của ông Nathan, mà chúng ta đã nghe trong bài đọc Một. Thế nhưng, Đức Maria không hề thấy thực hiện những lời hứa ấy trong suốt đời của đức Giêsu. Ngược lại, Đức Maria cũng như Thánh Giuse đã chứng kiến cảnh con mình sinh ra trong hang đá ngay tại thành vua Đavit, phải trốn tránh cuộc bách hại của vua Herod. Hơn thế nữa, cũng như Thánh Giuse, Đức Maria đã nghe những tiên báo đứt ruột của cụ Simeon (Lc 2,34-35), đã có những lúc không hiểu được những lời đối đáp của cậu Giêsu khi gặp lại trong đền thờ (Lc 2,50). Và rồi, suốt đời Đức Maria cứ chờ đợi sự thực hiện những lời của thiên sứ Gabriel. Thập giá ra như đã kết thúc cuộc chờ đợi vô vọng ấy: thay vì ngai báu của vua Đavit, thì chỉ có thập giá, hình khổ dành cho những tội phạm đại hình! Phải chăng mình đã bị đánh lừa? Trong khi Thông điệp “Thân Mẫu Đấng Cứu thế” nói đến cuộc thử thách đức tin, sự thanh luyện đức tin (hoặc: đêm tối đức tin, theo ngôn ngữ của thánh Gioan Thánh Giá),[2] thì Thông điệp Spe Salvi muốn chú ý đến cuộc thử thách của đức cậy: Đức Giêsu, niềm hy vọng của dân Israel, niềm mong đợi của muôn dân, đã chết trên thập giá. Phải chăng thế là hết? Phải chăng hy vọng đã chết? Phải chăng cuộc đời hoàn toàn chẳng còn nghĩa lý gì?[3]

Đến đây, chúng ta hãy nghe lại đoạn văn trong thư gửi Rôma của bài đọc Hai: “Mặc dầu không còn gì để trông cậy, ông vẫn trông cậy và vững tin, do đó ông trở thành tổ phụ nhiều dân tộc… Ông đã chẳng mất niềm tin, chẳng chút nghi ngờ lời Thiên Chúa hứa; trái lại, nhờ niềm tin, ông đã nên vững mạnh và tôn vinh Thiên Chúa, vì ông hoàn toàn xác tín rằng: điều gì Thiên Chúa đã hứa thì Người cũng có quyền năng thực hiện” (Rm 4,18-21). Thánh Phaolô dùng những lời này để ám chỉ đức tin của ông Abraham; phụng vụ áp dụng cho Thánh Giuse; chúng ta cũng có thể áp dụng cho Đức Maria dưới chân thập giá. Các môn đệ đã bỏ chạy hết vì họ đã vỡ mộng: Đức Giêsu không phải là vị Mesiah mà họ trông mong, vị Mesiah làm vua mà họ hy vọng sẽ được chia sẻ vinh quang! Quả thật, Đấng Mesiah ấy đã chết rồi. Đức Giêsu đã để cho ông Mesiah ấy chết. Khi mới bắt đầu sứ vụ công khai, ma quỷ đã cám dỗ Người: “Nếu ông là Con Thiên Chúa thì truyền cho những hòn đá này hóa bánh đi,… gieo mình xuống từ nóc đền thờ đi” (Mt 4,3.5). Nhưng Đức Giêsu không chiều theo ý của ma quỷ. Giờ đây, khi bị treo trên thập giá, Đức Giêsu lại bị thách thức: “Ông Kitô vua Israel, cứ xuống khỏi thập giá ngay bây giờ đi, để chúng ta thấy và tin” (Mc 15,32). Nhưng Người không xuống. Người cứ để mặc cho vị Mesiah vua Israel chết trên thập giá. Thế nhưng, vào chính khi Người tắt thở thì viên đại đội trưởng thốt lên: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa” (Mc 15,39).

Ắt hẳn, hình ảnh về Đấng Mesiah vinh quang cũng cần phải chết nơi Đức Maria. Thế nhưng, Mẹ vẫn giữ vững tin, vẫn trông cậy khi không còn gì để trông cậy. Dưới mắt của loài người, thật chẳng còn gì để trông cậy, bởi vì Đức Giêsu đã chết. Nhưng trên bình diện của đức tin, vẫn còn lý do để trông cậy, đó là: “Lời Chúa”. Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI viết tiếp: “Maria, đừng sợ” (Lc 1,30). Những lời của thiên sứ vào buổi truyền tin giờ đây lại vẳng lên: “Không có gì mà Thiên Chúa không thể làm được” (Lc 1,37). Ắt hẳn những lời của Chúa Giêsu tại Nhà Tiệc Ly cũng vọng đến tai của Mẹ: “Tâm hồn các con đừng xao xuyến; Đừng sợ” (Ga 14,27). “Can đảm lên, Thầy đã thắng thế gian” (Ga 16,33). Mẹ đã giữ vững niềm tin, giữ vững niềm cậy trông. Niềm tin và niềm cậy trông ấy đã được toại nguyện vào ngày Chúa Phục sinh. Lúc ấy, Mẹ mới hiểu rõ hơn ý nghĩa của lời sứ thần: “vương quyền của Người sẽ vô cùng vô tận” (Lc 1,33). Đó không phải là vương quyền chính trị của vua Đavit, nhưng là vương quyền của Đấng chiến thắng sự chết và sự dữ.

Hôm nay, khi bước vào Năm Thánh kỷ niệm 50 năm thành lập Tỉnh Dòng, chúng ta nhớ ơn những người đã giữ vững niềm trông cậy vào lúc thành lập cũng như vào những giai đoạn đen tối nhất sau biến cố 1975. Các ngài đã giữ vững niềm tin và niềm trông cậy khi không còn gì để trông cậy. Chúng ta hãy ghi ơn những vị ấy; Tỉnh Dòng tồn tại nhờ sự cương quyết của các ngài. Nhìn tấm gương xưa, chúng ta tự hỏi: phải chăng những khó khăn mà Tỉnh Dòng hiện đang đối phó hiện nay, (chẳng hạn thiếu dấn thân cho sứ vụ), chẳng bắt nguồn từ chỗ thiếu niềm trông cậy (nghĩa là thiếu đức hy vọng) đó sao? Phải chăng chúng ta đang tìm kiếm một Mesiah vinh quang, vừa tầm nhìn của mình; chứ không dám vươn lên xa hơn? Dù sao, Thánh Tôma đã nhắc nhở chúng ta rằng, “đức trông cậy” khác với “hy vọng tự nhiên” ở cái động lực: đức trông cậy dựa vào sức mạnh của Thiên Chúa, chứ không dựa vào khả năng của mình.[4] Mẹ Maria đã nhìn nhận điều ấy nơi bài ca Magnificat: “Đấng Toàn năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả… Từ đời nọ tới đời kia, Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người” (Lc 1,49-50).

Đã đến lúc kết thúc, vì bài suy niệm đã dài. Chúng ta chuẩn bị dâng Thánh lễ, tham dự vào cái chết và sự phục sinh của Đức Kitô. Xin Mẹ Maria cầu cho chúng ta được chết cho những tính toán phàm tục, những giấc mộng về một Mesiah vinh hiển, những rụt rè sợ hãi, lắm lần không do tính nhút nhát cho bằng do tính kiêu căng tự mãn. Xin Mẹ cầu cho chúng ta giữ vững niềm tin và trông cậy vào quyền năng của Thiên Chúa, quyền năng đã cho Đức Kitô sống lại khi mà mọi sự xem ra đã tan tành. Xin Mẹ cầu cho chúng con biết tham dự vào Thánh lễ, không phải như một nghi thức máy móc, nhưng thực sự là thông phần vào cái chết và phục sinh của Đức Kitô. Amen.

 

 

 


[1] Tỉnh Dòng Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, Công Vụ Tỉnh Hội 1985, số 27.

[2]Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Thông điệp Thân Mẫu Đấng Cứu Thế, số 18.

[3] Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI, Thông điệp Spe Salvi, số 50.

[4]St. Thomas Aquinas, Summa Theologiae, II-II, q.17, a.1.

 

 

ĐaMinh Việt Nam