✉ hylecuoicung@gmail.comTrang thông tin Huấn Giáo

Thần Học Các Tôn Giáo: Thần Học Ngôi Lời Nơi Các Giáo Phụ Đầu Tiên

Suốt chiều dài của lịch sử thế giới, ngay từ lúc tạo dựng, Thiên Chúa đã mạc khải chính mình qua Ngôi Lời: mạc khải này đã đạt tới đỉnh cao nhất qua biến cố Nhập thể của Ngôi Lời (Xc. Ga 1,14).

THẦN HỌC VỀ CÁC TÔN GIÁO

Lm. Phanxicô Xavie Nguyễn Tiến Dưng, AA.

***

***

PHẦN I: CÁC TÔN GIÁO TRONG KINH THÁNH

***

PHẦN II

THẦN HỌC NGÔI LỜI NƠI CÁC GIÁO PHỤ ĐẦU TIÊN

 

Khi kết thúc phần “Các tôn giáo trong Thánh Kinh”, chúng ta dựa vào lời khai mở Tin Mừng theo Thánh Gioan như là nền tảng của thần học về lịch sử cứu độ: suốt chiều dài của lịch sử thế giới, ngay từ lúc tạo dựng, Thiên Chúa đã mạc khải chính mình qua Ngôi Lời: mạc khải này đã đạt tới đỉnh cao nhất qua biến cố Nhập thể của Ngôi Lời (Xc. Ga 1,14). Dưới lăng kính của các Giáo Phụ, lịch sử cứu độ, như chúng ta sẽ thấy, vượt qua khỏi biên giới Do Thái và Kitô giáo. Trong một số trường hợp, lịch sử cứu độ này còn bao hàm cả sự khôn ngoan của Đông Phương cổ xưa, mặc dầu các ngài biết chưa rõ ràng về nó. Phần này muốn chỉ ra rằng, trong truyền thống đầu tiên của Giáo Hội, các Giáo phụ luôn ý thức về sự hiện hữu một cách năng động và phổ quát của Thiên Chúa qua Ngôi Lời trong các truyền thống tôn giáo.

Đương nhiên, khi đề cập đến vấn đề này, sự thận trọng là điều cần thiết.

– Trước hết, bối cảnh mà các Giáo phụ thuộc thế hệ đầu tiên viết hoàn toàn khác xa với bối cảnh mà chúng ta suy nghĩ bây giờ, liên quan tới ýnghĩa của các truyền thống tôn giáo khác. Biến một lời nói trong một bối cảnh khác cho bối cảnh bây giờ là một nguy hiểm về mặt lịch sử.

– Thứ đến, các quan niệm rất khác nhau, từ một thái độ hoàn toàn cởi mở đối với các nền văn hóa khác, tới thái độ chỉ duy kết án mà thôi.

– Cuối cùng, liên quan đến những Giáo Phụ đã khám phá ra những giá trị tích cực nơi các tôn giáo và các nền văn hóa; phải chỉ rõ ở đâu có thể tìm thấy những giá trị và ở đâu không thể tìm được những giá trị. Những tán thưởng liên quan đến văn hóa Hy Lạp hiện hữu cùng lúc với những nhận xét tiêu cực về chính nền văn hóa này. Trong bối cảnh đó, phải tuyệt đối tránh những cách thức “vơ đũa cả năm” hoặc những kết luận vội vàng. Biết cách phân biệt phải trái trong từng trường hợp phải trở thành luật.

Dầu mở rộng vòng tay tiếp đón các nền văn hóa khác, các Giáo phụ cũng không ngại ngùng lên án thuyết đa thần, cũng như việc tôn thờ ngẫu tượng. Các ngài không ngừng lập đi lặp lại lời răn dạy trong sách Đệ Nhị Luật: “Ngươi sẽ không có những thần khác trước nhan Ta. Ngươi sẽ không tạc tượng thần, tạc hình vật gì nơi trời bên trên, nơi đất bên dưới hay trong nước bên dưới đất. Ngươi sẽ không thờ lạy chúng, và phụng sự chúng, vì Ta, Giavê Thiên Chúa của ngươi” (Đnl 5,7-9). Các ngài cũng từ chối các phép ma thuật hay chiêm tinh mê tín. Các ngài mạnh mẽ lên án thuyết nhị nguyên trọng hồn, khinh xác, cũng như thuyết di hồn của trường phái Tân-Plalon.

Lên án những gì còn tăm tối nơi các nền văn hóa, nhưng các ngài đã biết gạn đục khơi trong. Tiếp theo Gioan, các Ngài đặc biệt biết kết hợp hài hòa giữa Đức Tin và lý trí. Hay nói đúng hơn là sự kết hợp giữa Logos Hy Lạp và Logos Nhập Thể của Đức Kitô. Chúng ta cùng nghiên cứu quan niệm về Ngôi Lời nơi một số Giáo phụ.

I. THÁNH JUSTINO VÀ HẠT GIỐNG NGÔI LỜI

Thánh triết gia Justino có thể được nhìn nhận như là người đầu tiên đã trình bày chiều kích vũ trụ của Ngôi Lời dưới lăng kính của người kitô hữu. Theo Justino, vũ trụ này được vận hành là nhờ vào Ngôi Lời. Ngôi Lời chính là sức mạnh vận hành của Thiên Chúa. Ngôi Lời sáng tạo và điều khiển vũ trụ. Kết hợp một cách tài tình logos của người Hy Lạp vào biến cố của Đức Giêsu. Justino đã viết: “Con Thiên Chúa – Đấng duy nhất được gọi là Con đích thực. Ngôi Lời hiện hữu cùng với Thiên Chúa và được sinh ra trước khi tạo dựng vũ trụ, khi mà Thiên Chúa tạo dựng và xếp đặt mọi sự – mệnh danh là Đức Kitô, vì được xức dầu và qua Ngài. Thiên Chúa đã xếp đặt và quản trị tất cả vũ trụ”.[1]

Quan niệm về Ngôi Lời nơi Justino cũng gần giống lối quan niệm linh hồn của thế giới nơi Platon. Tuy nhiên có một khác biệt: Justino nói tới Ngôi Lời hiện hữu với Thiên Chúa, nhưng những gì Thiên Chúa làm trong vũ trụ đều do Ngôi Lời. Tuy nhiên, chức năng trung gian của Ngôi Lời vượt ra khỏi biên giới Kitô giáo. Ngôi Lời đã hiện hữu trước biến cố Nhập Thể. Ngài hiện hữu giữa người Do Thái và Hy Lạp. Ngài ở giữa những ai sống theo lời mời gọi của Ngôi Lời và chính những người này cũng xứng đáng được gọi là Kitô hữu:

“Đức Kitô là trưởng tử của Thiên Chúa. Ngôi Lời của Ngài, nhờ Ngài tất cả mọi người được dự phần. Đó là điều chúng tôi đã lãnh nhận và là điều chúng tôi công bố. Những ai sống theo linh ứng của Ngôi Lời đều là Kitô hữu, cho dù xem ra đã trở thành vô thần. Chẳng hạn như dân Hy Lạp; Socrate, Heraclite và đồng nghiệp của các ông; nơi dân mandi; Abraham, Ananias, Azarias, Misael, Elia và rất nhiều người khác mà chúng ta không thể liệt kê danh tính của họ ở đây vì quá dài. Tương tự như thế, tất cả những ai sống trái ngược với Ngôi Lời là bọn xấu, thù địch với Đức Kitô, sát hại các môn đệ của Ngôi Lời. Còn những ai đã sống và đang sống theo Ngôi Lời là Kitô hữu, không sợ nguy hiểm và âu lo”.[2] Ở nơi khác, Justino viết: “Những người theo trường phái khắc kỷ thiết lập những nguyên lý đúng cho luân lý; những thi sĩ cũng diễn tả cách tương tự, bởi vì hạt giống Ngôi Lời được khắc ghi nơi tất cả mọi người”.[3]

Tuy nhiên, Thánh Nhân cũng thêm vào như sau: “Giáo lý của chúng tôi vượt xa tất cả các giáo huấn của nhân loại, bởi vì chúng tôi có Ngôi Lời trong Đức Kitô, Người đã xuất hiện cho chúng tôi cả thân xác, lý trí và linh hồn. Tất cả các nguyên lý đúng mà các triết gia cũng như của các nhà lập pháp đã khám phá và nói ra chỉ là một phần nhỏ so với những gì họ khám phá và chiêm ngắm nơi Ngôi Lời. Vì không biết được đầy đủ Ngôi Lời, chính là Đức Giêsu Kitô, nên họ đã tự mâu thuẫn với chính họ”.[4] Hay là “tất cả những gì tốt đẹp thuộc về người Kitô hữu […]. Các nhà văn có thể nhận biết Thiên Chúa một cách mờ mờ ảo ảo nhờ hạt giống Ngôi Lời gieo trong lòng họ”.[5]

Ta có thể tóm tắt ý tưởng của Justino theo thứ tự như sau:

1/. Có ba cách thức hiểu biết Thiên Chúa: của mọi quốc gia, của người Do Thái và của người Kitô hữu.

2/. Nguồn gốc duy nhất của các hiểu biết này đến từ Ngôi Lời.

3/. Sự nhận thức khác nhau về Thiên Chúa phụ thuộc vào mức độ tham gia với Ngôi Lời. Mặc dù Ngôi Lời lan tỏa khắp vũ trụ và trên tất cả mọi người, hoạt động của Ngôi Lời trên Israel có tính quyết định; và hoạt động này thật sự hoàn thiện qua việc Ngôi Lời đến trong xác phàm.

4/. Tất cả những ai nhận biết chân lý và sống trong sự công bình đều là Kitô hữu, vì họ kết hợp với Ngôi Lời và sống theo Ngôi Lời – Chân Lý. Cách nhìn nhận này na ná như quan niệm về người “Kitô hữu ẩn danh” của Karl Rahner vào 18 thế kỷ sau.

Như vậy, các nền văn hóa và các tôn giáo cùng dự phần với Ngôi Lời, tùy theo mức độ mà họ nhận được. Nếu như các tín đồ các tôn giáo khác chỉ tham dự một phần gia tài cứu độ nhờ Ngôi Lời gieo trong họ, thì các Kitô hữu được vinh hạnh đón nhận sự biểu lộ một cách trọn vẹn qua biến cố Nhập Thể; vì Nhập Thể là đỉnh cao của tiến trình cứu độ. Qua đó, Đấng hiện hữu từ muôn đời đã đi vào thời gian. Ngôi Lời Vô Hình đã trở thành hữu hình khi mang thân phận con Người nơi Đức Giêsu Kitô. Quan niệm của Justino cũng giống như quan niệm triết học của Hegel về Thần Khí. Thần Khí hiện diện trong các nền văn hóa và các tôn giáo, nhưng Thần Khí biểu lộ một cách hoàn thiện nơi Kitô giáo.

II. THÁNH IRENÉE VÀ NGÔI LỜI MẶC KHẢI

Nếu như thánh triết gia Justino có thể được nhìn nhận như là người đầu tiên đã trình bày chiều kích vũ trụ của Ngôi Lời dưới lăng kính của người Kitô hữu, thì Irenée được xem là ông tổ của thần học lịch sử. Theo Irenée, nhận biết Thiên Chúa không phải là một tri thức lý thuyết, một kết quả của lý luận và suy tư, nhưng là một sự tiếp cận gặp gỡ với Ngài thông qua Ngôi Lời. Ngôi Lời đã mạc khải một Thiên Chúa cứu độ trong lịch sử một cách tiệm tiến để gặp gỡ con người.

Trước hết, Ngôi Lời mạc khải qua công trình tạo dựng. Qua tạo dựng, Thiên Chúa đã đi vào lịch sử con người và vũ trụ. Ngài đã dựng nên con người như một đối tác thân thiết. Chính vì xem con người như đối tác, Ngôi Lời tiếp tục tỏ hiện trong Cựu Ước. Vì thế, lời của các ngôn sứ không phải là những lời nói về Đức Kitô, nhưng là những lời của Ngôi Lời. Ngôi Lời tỏ mình với Adam trong vườn địa đàng. Ngài đi dạo trong đó. Cũng chính với Adam, Ngôi lời thiết lập giao ước thứ nhất. Rồi với Noê, Ngôi Lời lập giao ước thứ hai. Với Môsê, Ngôi Lời thiết lập giao ước thứ ba. Và cuối cùng, giao ước trọn vẹn trong Đức Giêsu Kitô, Ngôi Lời nhập thể.[6] Ngôi Lời luôn hiện diện trong từng Giao Uớc. Khi Abraham nghe tiếng gọi của Thiên Chúa, ông bỏ tất cả để theo Ngôi Lời;[7]ở Mambrê, ông “thấy những gì sẽ đến trong tương lai, Con Thiên Chúa mặc lấy thân phận con người”.[8] Theo Irenée, không còn nghi ngờ gì nữa, ở Mambrê, chính Đức Giêsu Kitô đã xuất hiện với Abraham. Riêng đối với Môsê, Irenée viết rằng “Ngôi Lời đã nói chuyện với Môsê mặt đối mặt, như ai đó nói chuyện thân tình với người bạn của mình”.[9] Ngôi Lời không chỉ nói chuyện với Môsê, Ngôi Lời còn hiện diện trong biến cố Xuất Hành. Ngôi Lời đồng hành với dân Chúa. Ngôi Lời xuống trên dân, chuẩn bị tương lai cho dân Chúa:

“Ngôi Lời là vị ban phát ân sủng của Thiên Chúa cho loài người. Chính Ngài đã hoàn thành một chương trình cứu độ vĩ đại để mạc khải Thiên Chúa cho con người, và giới thiệu con người với Thiên Chúa; bảo toàn tính khả kiến của Chúa Cha để con người không xem thường Thiên Chúa, và mong ước đạt tới Ngài; đồng thời cũng làm cho Ngài trở thành khả kiến đối với con người bởi nhiều chương trình cứu độ, vì nếu hoàn toàn không có Thiên Chúa bên cạnh, thì con người sẽ phải chết. Bởi vì vinh quang của Thiên Chúa chính là con người sống động, và cuộc sống của con người chính là nhận biết Thiên Chúa: nếu qua công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã trao ban sự sống cho tất cả hữu thể sống trên trái đất, thì qua hành động mạc khải của Chúa Cha trong Ngôi Lời, Ngài càng trao ban sự sống hơn nữa cho những ai đón nhận ân sủng của Ngài”.[10]

Nói tóm lại, theo Thánh Irenée, Ngôi Lời có chức năng khai mở cho toàn bộ mọi người, vì Ngôi Lời đã hiện diện với con người từ khi tạo thiên lập địa. Ngôi Lời tiếp tục tỏ mình ra trong Cựu Ước như là việc Đức Giêsu Kitô tự mạc khải trước khi đến trong xác phàm. Tuy nhiên, việc Đức Kitô tỏ mình ra trong và qua thân xác con người, trong không gian và thời gian, là một bảo chứng về sự mới lạ của Kitô giáo trong lịch sử nhân loại. Qua biến cố Nhập Thể, Ngôi Lời mạc khải của Chúa Cha từ đời đời, đã trở thành “Bí tích gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người”. Từ nay, Ngài “thực sự trở thành khả kiến và khả tri cho người trần mắt thịt”.[11]

III. CLEMENTE THÀNH ALEXANDRIA VÀ GIAO ƯỚC VỚI TRIẾT HỌC[12]

Trong tác phẩm của Clemente thành Alexandria, từ ngữ “Ngôi Lời” chiếm một vị trí rất quan trọng, mặc dù nguyên tắc căn bản về Kitô học của ông vẫn tương tự với quan điểm của Irenée. Theo ông, tất cả mọi biểu lộ đặc biệt của Chúa Cha đều thực hiện qua trung gian của Ngôi Lời: “Chính do thần linh và do Ngôi Lời duy nhất phát xuất từ Thiên Chúa, mà con người có thể nhận thức Đấng vô danh”.[13]

Nếu như đối với Justino và Irenée, tất cả mọi tri thức chúng ta có được về Thiên Chúa là do tác động của Ngôi Lời, thì Clemente phân biệt những gì nhân loại tuyệt đối không thể hiểu được, điều mà phái ngộ đạo gọi là vực thẳm, với những gì con người có thể lãnh hội một khi được Chúa Con mạc khải:

– Trước hết, con người có thể đạt tới tri thức chung và sơ đẳng về Thiên Chúa qua suy luận của lý trí (logos tự nhiên). Đây là loại tri thức tự nhiên mà mọi người có thể đạt được.

– Thứ đến, trên một bình diện cao và đặc biệt hơn, với tác động độc đáo, Ngôi Lời dần đưa con người vào những con đường huyền nhiệm mà tự sức mình, con người không thể vươn tới.

Cùng như Justino và Irenée, Clemente Alexandria cho rằng ảnh hưởng của Ngôi Lời trải rộng khắp nơi, vượt xa bên ngoài ranh giới của truyền thống Do Thái giáo và Kitô giáo, bởi vì thế giới ngoại đạo cũng có những ngôn sứ riêng. Một số người Hy Lạp, dưới tác động của Ngôi Lời, đã thực sự thi hành sứ vụ ngôn sứ: “Phải chăng đó đã là một ân huệ tiên báo hay một thứ thần giao cách cảm? Đó là những hình thức tiên tri? Các triết gia sâu sắc nhất của Hy Lạp nhìn thấy Thiên Chúa qua hình ảnh mờ nhạt, nhưng cũng có khi với tất cả vẻ trong sáng”.[14]

Nếu như Irenée có một cái nhìn rất tích cực về con người, thì Clemente có một cái nhìn lạc quan và tích cực về triết học. Theo ông, triết học đến từ Thiên Chúa và hướng tới Ngài. Đối với thế giới Hy Lạp, triết học nằm trong kế hoạch đặc biệt của Thiên Chúa, nếu không tương ứng thì ít ra cũng song song với chương trình cứu độ của Thiên Chúa đã được thực hiện nơi người Do Thái qua Luật Môsê. Cả hai đều do Thiên Chúa thiết lập để dẫn đưa nhân loại hướng tới Chúa Kitô: “Đối với người Do Thái, Ngài đã trao ban Lề Luật; đối với người Hy Lạp, Ngài ban tặng triết học, ngõ hầu dân ngoại không có cớ tự bàu chữa. Bởi vì qua hai tiến trình khác nhau, Hy Lạp và Man Di, Ngài dần đưa con người tới sự hoàn thiện trông chờ do đức tin”.[15]

Nói một cách rõ rệt hơn, triết học là một phương tiện cứu độ mà Thiên Chúa ban tặng cho người Hy Lạp: “Trước khi Chúa đến trong trần gian, đối với người Hy Lạp, triết học được xem là bất khả thay thế trong việc dẫn đưa họ tới sự công chính. Bây giờ triết học trở thành hữu ích để dẫn đưa họ tới việc tôn thờ Thiên Chúa. Triết học đóng vai trò chuẩn bị cho những tâm hồn muốn đạt tới niềm tin tôn giáo qua lý chứng (…). Rất có thể triết học cũng được trao ban cho người Hy Lạp như một sự thiện trực tiếp, trước khi Chúa nới rộng lời mời gọi đến họ. Bởi vì, cũng như lề luật đối với người Do Thái, triết học giáo dục người Hy Lạp, ngõ hầu dẫn đưa họ tới Đức Kitô. Triết học làm công tác chuẩn bị. Dĩ nhiên chỉ có một con đường chân lý, nhưng nó giống như một dòng sông không hề khô cạn mà nhiều con suối ở nhiều nơi khác nhau cùng đổ vào đó”.[16]

Có một vài lần, Clemente còn đi xa hơn khi ông không ngần ngại định nghĩa triết học như một giao ước (diathèke) giữa Thiên Chúa và nhân loại, một lợi khí để vươn tới một nền triết học Kitô giáo: “Triết học đã được ban tặng cho người Hy Lạp như một giao ước đặc biệt hướng theo ý họ, làm như một tấm ván nhún để vươn tới một triết học phù hợp với giáo huấn của Đức Kitô”.[17]

Ủy Ban Thần Học Quốc Tế xem ra cũng đồng quan điềm này, nhưng phân biệt sự khác biệt tác động của Thiên Chúa nơi các triết gia và nơi Cựu Uớc: “Triết học đã có một chức năng tương tự như Lề Luật đối với người Do Thái. Triết học và Lề Luật đã đóng vai trò chuẩn bị để hướng tới sự viên mãn nơi Đức Kitô. Tuy nhiên có một sự khác biệt rõ rệt giữa tác động của Thiên Chúa nơi các triết gia và nơi Cựu Ước. Mặt khác, chỉ trong Đức Giêsu là ánh sáng soi cho mọi người, thì mới có thể chiêm ngắm Lời hoàn hảo và chân lý tròn đầy. Dù vậy, những mảnh vụn của chân lý cũng thuộc về toàn thể chân lý”.[18]

Giá trị của triết học được đề cập ở đây trước tiên phải hiểu là triết học Hy Lạp. Tuy nhiên, chính Clemente cũng thừa nhận là các triết gia Hy Lạp không phải là những bậc thầy vĩ đại cảm nghiệm được linh ứng thần linh để dẫn đưa các dân tộc về với Đức Kitô. Ông cho rằng các triết gia Hy Lạp đã vay mượn rất nhiều ở các hiền giả cổ điển. Chính các hiền giả này mới thực sự là những vị hướng đạo chân chính của nhân loại; những người được Thượng Đế linh ứng và dưới tác động của Ngôi Lời, họ đã dạy những chân lý thần linh cho các dân tộc. Trong số này,Clemente đặc biệt đề cập tới các hiền giả Ấn Độ: “ỞẤn Độ có hai loại hiền giả, gọi là Sarmanes và giáo sĩ Bà La Môn… Một số người Ấn Độ tin theo giáo pháp của Đức Phật, một người được họ tôn sùng như chính Thượng Đế do sự thánh thiện trổi vượt của Ngài”.[19]

Dưới ánh sáng của Đức Tin Kitô giáo, Clemente quả quyết: “Ngôi Lời của Chúa Cha chính là ngọn đuốc sự thiện, là Đức Chúa đã mang ánh sáng, đức tin và ơn cứu độ cho tất cả”.[20] Ngài hiện diện và hoạt động ở mọi thời, mọi nơi để gieo vãi chân lý và ánh sáng cho nhân loại. Nói cách khác, Ngôi Lời là ánh sáng của nhân loại. Đây là ánh sáng phổ quát chiếu soi mọi người: “Xin hãy lắng nghe, anh em những người ở xa; xin hãy lắng nghe, anh em những người ở gần, Ngôi Lời không hề lẩn trốn bất cứ ai; Ngài là ánh sáng chung, chiếu soi mọi người”.[21]

Cũng như Justino và Irenée, Clemente kết thúc suy tư của mình với cái nhìn lạc quan về viễn tượng cứu độ phổ quát: “Ý định muôn thủa của Thiên Chúa là cứu độ cộng đồng nhân loại. Chính vì vậy Thiên Chúa đã sai mục tử nhân lành, Ngôi Lời chân lý cho con người, để chỉ cho họ thấy tất cả chiều cao, chiều rộng của ơn cứu độ, ngõ hầu họ được cứu độ khi biết sám hối, hoặc sẽ bị luận phạt, nếu bất phục tùng”.[22]

IV. TÓM LƯỢC VỀ THẦN HỌC NGÔI LỜI NƠI CÁC GIÁO PHỤ ĐẦU TIÊN

Thần học về Ngôi Lời nơi Justino, Irenée và Clemente có nhiều điểm tương đồng. Cả ba đều nhấn mạnh đến biểu lộ của Thiên Chúa trong Ngôi Lời trước biến cố Nhập Thể. Mạc khải của Ngôi Lời diễn ra suốt chiều dài lịch sử nhân loại kể từ khi tạo thiên lập địa. Cả ba cùng đồng ý với nhau rằng, mạc khải của Thiên Chúa trong Ngôi Lời đạt tới sự viên mãn khi Ngôi Lời trở thành con người trong Đức Giêsu Kitô. Biến cố Nhập Thể, dù được chuẩn bị từ trước qua mạc khải của Thiên Chúa, vẫn luôn là biến cố mới mẻ và hoàn toàn ngạc nhiên đối với mọi người. Dù dùng những thuật ngữ có đôi chút khác nhau, – hạt giống Ngôi Lời nơi Justino (Logos spermatikos). Ngôi Lời mạc khải (Logos emphutos) nơi Irenée. Ngôi Lời giao ước (Logos protreptikos) nơi Clemente – nhưng về những điểm chính, thần học của ba giáo phụ này khá tương đồng với nhau.

Thần học về “hạt giống Ngôi Lời” cho phép chúng ta tiếp cận với các nền văn hóa cũng như các tôn giáo khác với cái nhìn tích cực. Bởi vì, trong từng nền văn hóa hay từng tôn giáo luôn có sự hiện diện cách này hay cách khác của “hạt giống Ngôi Lời”. Nói cách khác, Đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa luôn tiềm ẩn ở nơi lương tri của con người. Tuy nhiên, trong từng con người hay trong từng nền văn hóa, hoặc ngay trong từng tôn giáo, luôn tiềm ẩn những yêu tố cần thanh tẩy. Chúng ta đừng quên rằng, các Giáo Phụ, trong khi trân trọng các nền văn hóa và tôn giáo khác, cũng không ngần ngại lên án thuyết đa thần, vấn đề tôn thờ ngầu tượng hay những yếu tố đen tối khác trong các nền văn hóa và tôn giáo đó. Như thế, dưới lăng kính Kitô giáo, chúng ta có thể khẳng định rằng, Đức Giêsu Kitô chính là Ánh Sáng, là Chân Lý, là Đường để kiện toàn các tôn giáo và các nền văn hóa khác. Vì thế, Ngài đến thế gian để mang đến cho con người sự sống vốn đã được tác tạo bởi Thiên Chúa trở nên “dồi dào” hơn.

 

 


[1]Justino, 2 Apol, VI, 3.

[2]Ibid., VIII, 1.

[3]Ibid., VII, 1.

[4]Ibid., X, 1-3.

[5]Ibid., XIII, 4-6.

[6]Irenée, Adv. Haer. III, 11,8.

[7]Ibid., IV, 5, 3.

[8] Demonst. Apost. Praed. 44 ; SC. 406, tr. 149.

[9]Irenée, Adv. Haer. IV, 20,9 ; SC. 100, tr. 655.

[10] Ibid., IV, 20,6-7.

[11] P. Nguyễn Thái Hợp, Đường vào thần học tôn giáo, Dấn Thân, Houston, 2004, tr. 188.

[12] Phần này, chúng ta lấy từ bản tóm lược của: P. Nguyễn Thái Hợp, Đường vào thần học tôn giáo, Dấn Thân, Houston, 2004, tr. 191-195. Xem Jacques DEPUIS, Vers une théologie chrétienne du pluralism religieux, Cerf, 1997, tr. 105-111.

[13] Clement thành Alexandria, Strom. V, 12.

[14]Ibid., V, 19.

[15]Ibid., VII, 2.

[16]Ibid., I, 5,1-3.

[17]Ibid., VI, 8.

[18]Ủy Ban Thần Học Quốc Tế, Kitô giáo và các tôn giáo khác, 1997, số 43.

[19] Clement thành Alexandria, Strom. I, 15.

[20]Protreptikos VIII, 80.

[21]Ibid., IX, 88.

[22]Ibid., XI, 116.

 

 

Thần Học Các Tôn Giáo