✉ hylecuoicung@gmail.comTrang thông tin Huấn Giáo

Hiểu Sống Đức Tin: Tại Sao Có Những Hội Dòng Làm Nô Tỳ?

Chúng ta sống trong một thời đại đề cao nhân quyền, tôn trọng sự bình đẳng giữa hết mọi người dựa trên phẩm giá của họ.

Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP.

 

Ngày 02 tháng 02 hàng năm, lễ Đức Mẹ dâng Chúa Giêsu vào đền thánh, là ngày đời sống thánh hiến. Trong số các Dòng Tu, có những Dòng mang tên là “Nữ Tỳ Chúa Giêsu” hoặc “Nữ Tỳ Thánh Tâm”. Tại sao có những tu sĩ tự coi mình là Nữ Tỳ? Chúa muốn đối xử với chúng ta như bạn hữu, như con cái, chứ đâu phải như nô lệ đầy tớ?.

Chúng ta sống trong một thời đại đề cao nhân quyền, tôn trọng sự bình đẳng giữa hết mọi người dựa trên phẩm giá của họ. Vì thế các nền pháp chế hiện đại đã bãi bỏ chế lộ nô lệ. Với não trạng như vậy, chúng ta thấy dị ứng với những từ ngữ thời xưa mang dấu tích của sự bóc lột hà hiếp, trong số đó phải kể đến “đầy tớ, nô lệ, nữ tỳ, tôi tớ”. Tuy nhiên, đó là phản ứng cấp thời đấy thôi. Nhiều khi suy nghĩ lại, thì một đàng ta thấy hình thức nô lệ vẫn còn được duy trì đây đó, và đàng khác, đôi khi làm đầy tớ còn là một vinh dự nữa.

Như vậy là cha bênh vực chế độ nô lệ hay sao?

Tôi không bênh vực chế độ nô lệ, nhưng ý tôi muốn nói rằng, có nhiều hình thức nô lệ, có thứ tốt có thứ xấu. Dĩ nhiên, chúng ta không thể nào bênh vực chế độ nô lệ xét như một định chế xã hội, trong đó một người hoàn toàn lệ thuộc vào ông chủ, mất hết quyền tự do định đoạt. Tiếc rằng chế độ này vẫn còn tồn tại ở những nước kém phát triển như chị đã biết. Tuy nhiên, tại các nước tiên tiến thì lại có một hình thức nô lệ khác hiểu theo nghĩa luân lý, đó là khi mình bị chỉ huy điều khiển bởi một quyền lực nào đó mà mình không cưỡng lại được: từ những hình thức cụ thể ngay trước mắt của những người nghiện ngập thuốc phiện, rượu chè, cho đến những hình thức vô hình như là tiền tài danh vọng; và thậm chí mình có thể làm nô lệ cho những việc tự bản chất là tốt, chẳng hạn như phần nào tôi cũng là nô lệ cho máy vi tính: tôi không thể bỏ nó được, bởi vì thiếu nó là tôi như bị chặt cánh tay. Đối lại, có thứ nô lệ nói được là tốt khi mà chúng ta tình nguyện đi phụng sự ai đó, chứ không vì cưỡng bách. Ta có thể lấy hai thí dụ tại xã hội Việt Nam trước đây. Thứ nhất là các vị quan: chắc chắn họ không phải là các nô lệ; thế nhưng họ tự hào là bề tôi của nhà vua; nghĩa vụ của họ là phải trung với vua. “Tôi trung” không phải là sỉ nhục mà là một vinh dự. Đối lại, vua quan tự coi mình như là đầy tớ của dân. Đó là thí dụ thứ hai mà việc “làm tôi” mang ý nghĩa tốt. Như vậy, “làm đầy tớ” hay “làm tôi” mang nghĩa xấu, khi nó là hậu quả của sự lệ thuộc và lao động cưỡng bách; nó mang nghĩa tốt khi kèm theo phục vụ và tự nguyện.

Đối với Chúa thì làm nô lệ là tốt hay là xấu?

Điều này cũng tuỳ theo bối cảnh, nghĩa là tuỳ chúng ta quan niệm Chúa như là một chủ nhân hà khắc bóc lột, hay như một vĩ nhân mà ta được hân hạnh hầu cận. Trên thực tế, vào thời cổ điển, người ta thấy có hai quan niệm khác nhau về mối tương quan giữa con người với Thiên Chúa. Trong văn hoá Hy-lạp và Rôma, nơi mà nô lệ bị hoàn toàn tước đoạt quyền tự do và phải lao động vất vả, mối tương quan giữa con người với các thần linh được ví như là bằng hữu hoặc là thân thích. Đối lại, trong văn hóa Do thái thì khác, quan niệm về “đầy tớ” không mang ý nghĩa tiêu cực, vì thế người ta không ngại áp dụng vào mối tương quan với Thiên Chúa. Các lãnh tụ của dân Do thái đều tự hào vì được kể vào hàng như là “tôi tớ của Thiên Chúa”, thí dụ như ông Abraham (Tv 106,42), ông Môsê (Gs 14,7a), ông Giosuê (Gs 24,29; Tl 2,8),v.v…; thậm chí các sứ thần của Thiên Chúa cũng được vinh dự mang danh hiệu là “tôi tớ Chúa” (Giop 4,18). Chủ yếu của việc làm “tôi tớ” là phục vụ. Và chị cứ tưởng tượng xem: mình được Đại Đế cho vào phục vụ trong triều, đó chẳng phải là một vinh dự hay sao?

Nếu vậy thì tại sao Chúa Giêsu lại nói với các môn đệ: “Thầy không còn gọi các con là đầy tớ nữa, nhưng Thầy gọi các con là bạn hữu”?

Chúng ta nên hiểu câu nói đó trong mạch văn của thánh Gioan. Chúa Giêsu đối chiếu “đầy tớ” với “bạn hữu” khi nói về việc hiểu biết nỗi lòng của nhau. Chúa Giêsu đã muốn chia sẻ với các môn đệ những tâm sự thầm kín nhất, điều này xảy ra giữa bạn hữu, chứ không phải giữa chủ với đầy tớ. Tuy nhiên, Chúa Giêsu muốn xóa bỏ từ “đầy tớ” ra khỏi ngữ vựng của Tân ước. Thật vậy, trong Phúc âm, nhiều lần Chúa Giêsu đã khuyến khích các môn đệ hãy cư xử như là những đầy tớ trung thành, cần mẫn làm việc. Ý tưởng “đầy tớ” được gắn với việc “phục vụ” cách tận tâm. Nhất là chính Đức Giêsu đã tự ví mình như một người đầy tớ, đến để hầu hạ chứ không phải để được hầu hạ. Vì thế không lạ gì mà Hội thánh tiên khởi đã áp dụng cho Đức Giêsu những điều mà các ngôn sứ Isaia và Giêrêmia đã viết về “người đầy tớ đau khổ của Giavê”. Một ý tưởng tương tự cũng gặp thấy nơi đức Maria. Ở chương 1 của Tin mừng Thánh Luca, đáp lại sứ thần Gabriel, Người đã tự xưng rằng: “Tôi đây là Nữ Tỳ của Thiên Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần truyền” (Lc 1,38). Cách đó không xa, khi đi viếng thăm bà Elisabeth, Đức Maria đã thốt lên trong bài ca Magnificat là “Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới” (Lc 1,48). Ý tưởng “nữ tỳ, tôi tớ” bao hàm vừa là thái độ khiêm tốn vừa tinh thần sẵn sàng phục vụ.

Thánh Phaolô nói với các tín hữu rằng: “Từ nay, anh chị em là con cái của Chúa chứ không phải là nô lệ nữa”. Như vậy nô lệ được hiểu theo nghĩa nào?

Câu nói của thánh Phaolô cũng cần được đặt trong mạch văn của nó. Trong chương 6 của thư gửi Rôma và chương 4 của thư gửi Galát, thánh Phaolô đã đối chiếu tình trạng của các tín hữu trước và sau khi tin Chúa Kitô. Trước đó, họ là nô lệ cho tội lỗi, dục vọng, lề luật. Đức Kitô đã giải thoát chúng ta ra khỏi tình trạng nô lệ đó, nhờ vậy chúng ta được trở thành con cái tự do. Nhưng tự do không có nghĩa phóng túng, vì như vậy là chúng ta lại rơi vào vòng nô lệ lần nữa, nô lệ cho tội lỗi. Cách sống đích đáng phẩm giá tự do của mình là hãy trở nên “đầy tớ” của Chúa Kitô, nghĩa là sống luật yêu thương dưới sự hướng dẫn của Thánh Linh. Chính thánh Phaolô đã nêu gương trước. Người trở thành tôi tớ của Chúa Kitô bằng cách phục vụ Tin mừng qua việc rao giảng và phục vụ Hội thánh. Thực ra đây không phải chỉ là quan điểm riêng tư của thánh Phaolô. Hội thánh tiên khởi cũng ý thức như vậy, điển hình là các thánh tông đồ đã thiết lập một chức vụ gọi là những người phục vụ (diakonoi), dịch ra tiếng Việt là “phó tế” mất hết ý nghĩa. Chức năng của họ không phải là đi giúp lễ trên bàn thờ, nhưng là phục vụ Tin mừng bằng việc rao giảng và phục vụ anh em qua việc giúp bàn, một cử chỉ của bác ái và khiêm tốn.

Nếu vậy tất cả Hội thánh đều là tôi tớ của Chúa Kitô, chứ đâu riêng gì các tu sĩ, hoặc một vài Dòng mang tên hiệu “Nữ Tỳ Chúa Giêsu”?

Trên nguyên tắc, tất cả các tín hữu đều cần sống lý tưởng là “tôi trung của Chúa Kitô”, như sách Tin mừng đã nhắn nhủ. Tuy nhiên, trải qua lịch sử, từ ngữ “tôi tớ Chúa” đã được sử dụng như một tước hiệu hay lý tưởng sống theo nhiều lối khác nhau. Từ thời các giáo phụ, một số đan sĩ tự xưng mình là “tôi tớ Chúa” nhằm biểu lộ sự hiến thân trọn đời để phụng sự Chúa, cách riêng qua việc phụng tự. Đang khi ấy, một số giám mục hay viện phụ tự xưng là “tôi tớ Chúa” nhằm thể hiện tinh thần mà Chúa Giêsu đã khuyên nhủ: trong anh em, người lớn nhất hãy trở nên người phục vụ. Trong tinh thần đó, không lạ gì mà Đức Giáo Hoàng Grêgôriô Cả ký tên là “tôi tớ của các tôi tớ Chúa”, và thói tục này vẫn còn được duy trì đến ngày hôm nay. Vào thời Trung cổ, khi mà một số Kitô hữu bị người Hồi giáo bắt làm nô lệ, thì một số Dòng Tu được lập nên để dâng mình đi chuộc lại tự do cho các nô lệ đó.

Tuy nhiên, những Dòng Tu mang danh là Nữ Tỳ Thiên Chúa hay Nữ Tỳ Đức Mẹ thì mới ra đời vào thời cận đại, do ảnh hưởng của nhiều luồng linh đạo khác nhau. Một trào lưu ra như muốn chống lại những phong trào vô thần, muốn chối bỏ Thiên Chúa ra khỏi xã hội. Vì thế có những Dòng Tu được thiết lập dưới danh hiệu “Nữ Tỳ Thánh Tâm Chúa Giêsu” nhằm tuyên xưng vương quyền của Chúa trên cá nhân và cộng đoàn: họ dâng hiến trót đời để phục vụ Chúa qua việc thờ lạy cũng như việc phục vụ đồng loại. Một luồng linh đạo khác, khởi nguồn từ Tây Ban Nha từ thế kỷ XVI, đã đi theo chiều hướng khác. Nước Tây Ban Nha đã từng có những kinh nghiệm của những tín hữu bị bắt làm nô lệ người Hồi giáo cũng như kinh nghiệm của những Hội Dòng được thành lập để cứu những người ấy.

Người ta phân biệt ba thứ nô lệ: một, nô lệ về phần xác (tức là chế độ nô lệ ngoài xã hội); hai, nô lệ về phần linh hồn (nô lệ ma quỷ, thế gian, xác thịt); thứ ba, nô lệ theo nghĩa cao thượng, nghĩa là tình nguyện hiến thân phục vụ Thiên Chúa: phục vụ Chúa là cai trị. Bên cạnh lý tưởng phục vụ Thiên Chúa, còn có phong trào làm tôi tớ Đức Mẹ Maria, người Nữ Tỳ Thiên Chúa. Khi nhìn tấm gương của Đức Maria, chúng ta học được bài học của khiêm tốn và phục vụ. Đến khi phong trào được bành trướng sang Pháp, thì thấy phát triển hai chiều hướng. Một chiều hướng của cha Pierre de Bérulle, muốn các tín hữu và cách riêng các linh mục hãy bắt chước tấm gương của Đức Giêsu, người đầy tớ của Chúa, dâng trót đời làm hiến lễ để phục vụ vinh quang của Thiên Chúa. Chiều hướng thứ hai của thánh Louis Marie Grignon de Montfort khuyến khích việc dâng mình cho Đức Mẹ, dưới hình thức “làm tôi Mẹ”, muốn thuộc trọn về Mẹ để hấp thụ tinh thần phục vụ Chúa Kitô như Đức Mẹ. Tinh thần của cha Montfort cũng gây ảnh hưởng không ít nơi thánh Maximilianô Kolbe trong thế kỷ XX. Theo tinh thần này, việc làm tôi Đức Mẹ theo gương khiêm tốn phục vụ, là một phương thế để phụng sự Vương triều của Chúa Kitô.

 

 

Hiểu Sống Đức Tin