Thần học các tôn giáo là môn nghiên cứu vai trò cứu độ của các tôn giáo khác qua mặc khải nơi Lời Chúa, được chú giải trong Truyền Thống sống động của Giáo Hội.
THẦN HỌC VỀ CÁC TÔN GIÁO
Lm. Phanxicô Xavie Nguyễn Tiến Dưng, AA.
***

***
Dẫn nhập
Khi nghiên cứu về tôn giáo hay nói đúng hơn là về các tôn giáo, có ít là các môn học liên quan sau đây:
– Lịch sử các tôn giáo: Nghiên cứu các tôn giáo dưới chiều kích lịch sử.
– Hiện tượng luận về các tôn giáo: Đề nghị một plurơng pháp chú giải hiện lượng các tôn giáo.
– Tâm lý học về các tôn giáo: Mổ xẻ nội dung các tôn giáo dưới lăng kính tâm lý.
– Triết học về các tôn giáo: Đặt câu hỏi về ý nghĩa các tôn giáo cũng như vai trò của các tôn giáo trong hành trình phát triển con người.
– Thần học các tôn giáo: “Đề nghị một phương pháp nghiên cứu các tôn giáo khác dưới ánh sáng Lời Chúa, và trong viễn tưởng lịch sứ cứu độ, mà theo đó Đức Kitô là Khởi nguyên (Alpha) và là Cứu cánh (Oméga).[1]
– Sự khác nhau giữa khoa học các tôn giáo và thần học các tôn giáo: Môn khoa học về các tôn giáo quan sát, đánh giá và so sánh các tôn giáo từ các hiện tượng bên ngoài. Trong khi đó, môn thần học về các tôn giáo bắt đầu và luôn dừng lại trong viễn tưởng Đức Tin, không tách rời khỏi các đòi buộc rõ ràng của Đức Tin.
Như vậy, thần học các tôn giáo là môn nghiên cứu vai trò cứu độ của các tôn giáo khác qua mặc khải nơi Lời Chúa, được chú giải trong Truyền Thống sống động của Giáo Hội. Thần học về các tôn giáo phải là một môn học trong các môn thần học khác của Giáo Hội, và nó cũng phải được định nghĩa theo kiểu nói của thánh Anselm: “Đức Tin muốn hiểu biết – filies quaerens intellectum”. Hay nói cách khác như thánh Augustinô: “Tin để hiểu và hiểu để tin hơn.
Vì muốn được hiểu biết, nên khi học môn này mỗi người sẽ đặt câu hỏi: trong một thế giới đa tôn giáo, vai trò “trung gian cứu độ” của Đức Kitô như thế nào? Bên ngoài con dường chính thức của Đức Kitô, qua Giáo Hội, còn có con đường nào khác nữa không? Nếu có thì đâu là tương quan giữa Ngài với những con đường cứu độ này? Và như vậy, Đức Kitô sẽ ban ơn cứu độ cho các tín đồ ngoài Kitô giáo bằng cách nào? Nếu các tôn giáo khác cũng có con đường cứu độ thì tại sao Giáo Hội còn phải đi rao giảng Tin Mừng?
Đây là những câu hỏi khó khăn mà không dễ dàng tìm được câu trả lời đồng thuận. Nhiều thần học gia trong lĩnh vực này đã được mời về Rôma để “giải thích” lập trường. Vì thế, khi bàn đến vấn đề “hóc búa” này, đòi hỏi chúng ta phải bám sát vào Lời Chúa, cũng như việc chú giải Lời Chúa qua các thời kỳ, đặc biệt là các giáo phụ, các thần học gia tiền Công Đồng chung Vaticano II, các giáo huấn của Giáo Hội,…
Những khó khăn: Theo W. Cantwell Smith[2], một thần học các tôn giáo xuất phát từ lăng kính Kitô giáo có nguy cơ biến các tôn giáo khác thành vật thế (objet), tức là đối tượng của nghiên cứu, thay vì tôn trọng các tôn giáo như là chủ thể (sujet). Vì thế, ông đề nghị một nền “thần học toàn cầu”, tức là “thần học của mọi người”, một thần học có quan hệ hỗ tương giữa các tôn giáo, một nền thần học so sánh các tôn giáo được mọi người chấp nhận. Tuy nhiên, ông này sau đó cũng nhìn nhận rằng: một nền thần học không có thể vừa là Kitô giáo vừa là Hồi giáo hay Ấn giáo. Bởi vì, tuyên xưng Đức Tin liên quan tới một truyền thống.
Trong thần học tôn giáo, cần tránh hai thái cực: “duy tương đối” (relativisme) và “duy tuyệt đối” (absolutisme). Duy tương đối cho rằng mọi tôn giáo đều có giá trị như nhau, để rồi tương đối hóa hoặc đánh mất chân tính độc đáo của Kitô giáo. Trái lại, duy tuyệt đối lại đồng hóa Kitô giáo với Đức Kitô, để rồi tuyệt đối hóa Kitô giáo và xem thường mọi giá trị chân lý và luân lý của các tôn giáo khác. Như thế, có thể phủ nhận hoạt động của Chúa Thánh Thần và không nhận ra sự hiện diện của Ngôi Lời nơi các nền văn hóa và tôn giáo ngoài Kitô giáo.
***
PHẦN I
CÁC TÔN GIÁO TRONG THÁNH KINH
I. ISRAEL VÀ CÁC DÂN TỘC KHÁC
1. “Giao Ước vũ trụ” giữa Thiên Chúa và con người
Giao Ước là căn tính của dân tộc Israel: “Ta sẽ là Chúa các ngươi và các ngươi sẽ là dân của Ta” (Lv 26. 12). Thần học của Israel đặt trọng tâm vào Giao Ước. Hay nói cách khác, Giao Ước là trung tâm đời sống tôn giáo của dân tộc được tuyên chọn. Lịch sử của Israel là lịch sử cứu độ, một lịch sử cứu độ được thiết lập qua Giao Ước.
Khi nói tới Giao Ước, ta thường nghĩ tới Cựu Ước và Tân Ước, lúc là Giao Ước giữa Thiên Chúa với dân được tuyển chọn và Giao Ước được ký bằng máu của Đức Giêsu. Tuy nhiên, ít ai nghĩ rằng, trong Cựu Ước, thuật ngữ Giao Ước đã được dùng trước cả khi Thiên Chúa ký kết Giao Ước với Abraham và Maisen. Trong sách Sáng Thế Ký, tường thuật về Abraham chỉ bắt đầu ở chương 12. Trong khi đó, tường thuật về Adam bắt đầu từ chương 1 tới chương 5, và tường thuật về Noê đã có từ chương 6 tới chương 9. Tường thuật về việc tạo dựng Adam trong Sáng Thế Ký không dùng chữ giao ước. Tuy nhiên, người ta nhận thấy một tương quan mật thiết giữa Tạo Hóa và Adam, người cha của nhân loại. Tương quan này, theo các Giáo Phụ, chính là biểu tượng của Giao Ước thứ nhất giữa Thiên Chúa và toàn thể gia đình nhân loại. Một giải thích như thế không phải là không có cơ sở trong Thánh Kinh: Sách Huấn Ca chương 17 câu 12 đã nói tới việc thiết lập “giao ước đời đời” giữa Thiên Chúa và nguyên tổ: Giêrêmia chương 33 câu 20-26 và Thánh Vịnh 89 nhắc tới “Giao Ước vũ trụ” qua việc tạo dựng[3].
Chính trong tường thuật về Noê mà tác giả đã sử dụng thuật ngữ Giao Ước lần đầu tiên. Giao Ước này đã được báo cho Noê trước đại hồng thúy (St 6, 18), vì ông là “người đức nghĩa vẹn toàn giữa những người cùng thời. Noê hằng đi đứng rập với Thiên Chúa” (St 6, 9). Giao Ước này được Thiên Chúa ký kết với toàn thể các thụ tạo qua trung gian Noê (St 9, 1-17). Dấu chỉ của “Giao Ước vĩnh cửu” này là “vòng cung có trên mây trời”[4], một biểu tượng kiên định của trật tự vũ trụ.
Thần học gia Daniélou đã viết: “Thiên Chúa Hằng sống không ngừng tỏ mình cho con người qua các tạo vật (…). Trước khi tỏ mình ra cho Abraham và Maisen, Ngài đã tỏ mình ra cho Noê, tức là với mọi nước mọi dân. Dĩ nhiên, mặc khải này chưa rõ ràng. Nhưng nó đã hàm chứa nội dung chính của mặc khải, đó là hành động cứu chuộc của Thiên Chúa trong thế giới”.[5]
Chúng ta có thể kết luận rằng Giao Ước với Noê không chỉ được hiểu theo nghĩa đơn thuần là một bảo chứng cho việc nhận biết Thiên Chúa qua các yếu tố tự nhiên. Giao Ước này liên quan đến các hành động cá nhân và hoàn vũ của Thiên Chúa trong lịch sử của các dân tộc, trước cả Giao Ước với dân tộc được tuyển chọn. Như vậy, ta có thể nói: các truyền thống tôn giáo của nhân loại là những chứng nhân được tuyển chọn qua Giao Ước này. Đó cũng là lý do tại sao chúng ta biết các Giáo Phụ không nói chỉ có hai Giao Ước, qua Abraham-Maisen và Đức Giêsu, nhưng là bốn Giao Ước, bắt đầu bằng hai Giao Ước được thiết lập với Adam và Noê. Các ngài đã nhận ra rằng lịch sử cứu độ không chỉ giới hạn trong biên giới của dân dược tuyển chọn, nhưng được mở rộng cho tất cả mọi người và mọi dân tộc. Chính vì thế, Irène đã viết: “Bốn Giao Ước được trao ban cho nhân loại: Giao Ước thứ nhất, trước đại hồng thủy, thời Adam; Giao Ước thứ hai, sau đại hồng thủy, thời Noê; Giao Ước thứ ba là hồng ân của Bộ Luật với Maisen; và cuối cùng, một Giao Ước làm cho con người đổi mới và kiện toàn tất cả các Giao Ước khác, một Giao Ước nâng con người lên, hướng con người về Thiên Quốc, thông qua Tin Mừng”.[6]
Một cách tương tự, các Giáo Phụ phân biệt các thời đại khác nhau của thế giới, được tiếp nhận qua phương pháp sư phạm của Thiên Chúa. Các thời đại này phát triển một cách tiệm tiến và gắn kết với nhau trong cùng một lịch sử cứu độ.
2. Các thánh “ngoại giáo” trong Cựu Ước
a/. Các thánh trước Israel
– Abel: “Bởi Đức Tin, Abel đã dâng lên Thiên Chúa lễ vật sung túc hơn Cain, và nhờ dó ông đã được chứng giám là công chính” (Dt 11. 4). Abel khai màn thế hệ những vị thánh của Giao Ước vũ trụ. Thánh Kinh giới thiệu ông như là vị thánh dân ngoại đầu tiên. Không phải bởi vì ông công chính nên ông được tuyển chọn, nhưng ngược lại, ông được trở nên công chính do bởi ông được tuyển chọn. Abel là một trong những người đầu tiên được Thiên Chúa tuyển chọn giữa dân ngoại, như là bằng chứng của tình yêu Thiên Chúa. Ông là vị tử đạo đầu tiên (Mt 23, 34-35) đã đổ máu ra để tiên báo về hy lễ của Đức Kitô trên Thập Giá (Dt 12,14).
– Hênóc: “Bởi tin, Hênóc đã được dời đi chốn khác để khỏi thấy cái chết (…). Nhưng trước lúc dời đi, ông đã được chứng giám là đã làm đẹp lòng Thiên Chúa. Còn không Đức Tin, thì vô phương làm đẹp lòng Thiên Chúa” (Dt 11, 5-6). Thánh Kinh nói tới sự thân thiện giữa Hênóc và Thiên Chúa: “Hênóc đi theo con đường của Thiên Chúa” (St 5, 22); “Hênóc đi đứng với Thiên Chúa (…). Dấu lạ về tri thức cho thời đại ông” (Hc 44,16). Sự tin tưởng vào việc Chúa cứu dân ngoại là một xác tín vào Giao Ước của Thiên Chúa Hằng Sống với muôn dân. Điều này bao hàm việc tin vào một Thiên Chúa sống động luôn hành động trên con người, một Thiên Chúa Quan Phòng hằng ban thưởng cho những người công chính. Hênóc là biểu tượng ơn cứu độ dành cho dân ngoại.
– Noê: “Bởi tin, Noê đã được lời sấm báo cho những điều người ta chưa hề thấy, một lòng túc kính, ông sửa soạn chiếc tàu để cứu gia đình ông. Nhờ đó, ông đã lên án thế gian, và được thừa hưởng sự công chính chiếu theo lòng tin làm cơ nghiệp” (Dt 11,7). Kinh Thánh đã nhiều lần làm chứng về sự thánh thiện của Noê: “Noê đã được nghĩa trước mắt Thiên Chúa” (St 6, 8); “Noê hằng đi đứng rập với Thiên Chúa” (St 6, 9). Sách Khôn Ngoan đề cập tới sự công chính của ông (Kn 10, 3). Tiên tri Edekiel liệt kê Noê vào số những người được tuyển chọn (Ed 14,14). Thư gửi tín hữu Do Thái ca ngợi lòng kính sợ Thiên Chúa của ông (Dt 11,7). Lụt đại hồng thủy đã chứng thực rằng đức tin của Noê là đúng đắn. Chính Đức Giêsu cùng ca ngợi Noê vì ông đã vâng phục Lời Thiên Chúa ở giữa một thế hệ cứng tin (Mt 24, 37-39). Ông thuộc thế hệ những người được cứu chuộc. Ông cũng trở thành công cụ để cứu chuộc thế giới (Hc 44,17-18); “số sót” đã tránh được cơn thịnh nộ của Thiên Chúa chính là nguyên lý của một nhân loại mới. Vì thế, một cách nào đó, Noê là biểu tượng của Đức Kitô. Trong hoàn cảnh đó, Giao Ước với Noê là Giao Ước với toàn thể nhân loại và với vũ trụ (St 9,10); một Giao Ước vĩnh cửu (St 9,16) thể hiện sự trung tín của Thiên Chúa với tạo vật do Ngài dựng nên, và vồng trời xuất hiện như là dấu chỉ của các bí bích (St 9,12-15).
b/. Các vị thánh bên ngoài Israel
– Gióp: Sách Gióp giới thiệu Gióp như là biểu lượng của sự công chính và lòng kính sợ Thiên Chúa: “Xưa ở xứ Us, có một người tên là Gióp, một người liêm khiết và chính trực, kính sợ Thiên Chúa và lánh xa điều gian ác” (G 1,1 ); ông mặc lấy sự công chính (G 29, 14). Gióp được Chúa ân thưởng sự giàu có và danh dự. Tuy nhiên, sau đó, ông bị thử thách. Giữa muôn vàn đau khổ và khánh tận, bạn bè của ông xem đó là sự trừng phạt của Thiên Chúa. Nhưng Gióp đã không nản chí, ông không bao giờ kết án Thiên Chúa. Sách Gióp cùng giúp ta hiểu thêm rằng, con người không bao giờ thấu hiểu hết được mầu nhiệm của sự đau khổ. Nhưng qua Giao Ước với vũ trụ, họ có thể tôn thờ Thiên Chúa để đạt tới sự thánh thiện nào đó.
– Melkisedek: Ông được xem như là một dung mạo nổi tiếng, nhưng lại không phải là người Do Thái. Sách Sáng Thế Ký xem ông là một thầy cả của Thiên Chúa Tối Cao, người chúc phúc cho Abraham: “Melkisedek, vua Salem đem đến bánh rượu, ông này là tư tế của Đấng Tối Cao. Ông đã chúc lành cho Abraham và nói: ‘Thiên Chúa Tối Cao, Đấng dựng nên trời đất, chúc phúc cho Abraham’. Chúc tụng Thiên Chúa tối Cao, Đấng đã trao vào tay ông những thù địch của ông” (St 14, 18-20). Thánh Vịnh 110 xem ông là mẫu mực của “linh mục đời đời”: “Con là linh mục đời đời theo phẩm trật Melkisedek” (Tv 110, 4). Thư gửi Do Thái dành nhiều chỗ để ca ngợi ông. Các Kitô hữu xem ông như là biểu tượng của Đức Kitô linh mục. Ông dâng lễ tế để tạ ơn Thiên Chúa, ông được sai đến để chúc lành cho Abraham và nhận lễ phẩm dâng lên Thiên Chúa của Abraham (St 14, 20). Abraham ca ngợi ông và qua đó nhìn nhận sự bình đẳng của Giao Ước trước mình. Melkisedek là biểu tượng của một nhân loại luôn có nhu cầu dâng lễ tế lên Đấng đã tạo dựng nên mình.
Còn một số nhân vật khác không nằm trong hậu duệ của Abraham nhưng được nhìn nhận là công chính trước mặt Thiên Chúa như ông Lot. Ông được xem là công chính, vì sống theo luật lương tâm, được Thiên Chúa khắc ghi trong lòng mình. Hay một người khác như hoàng hậu Saba, những vị thánh của “Giao Ước vũ trụ”. Bà “đã đến từ xa để nghe lời khôn ngoan của Salomon” (Mt 12, 42; xem 1 V 10,1-13). Vì đã tôn thờ Thiên Chúa mặc khải qua lương tâm, bà mới tới để chào Salomon, người được nhận một mặc khải hoàn hảo hơn. Daniélou đã tóm lược như sau: “Sự thánh thiện trong tôn giáo vũ trụ hệ tại ở việc đáp lại tiếng Chúa phán ra từ lương tâm. Khi tôi tuân theo định luật lương tâm thì tôi nhìn nhận trong đó thánh ý khôn cùng của Thiên Chúa. Tôi yêu Chúa khi yêu luật lương tâm. Luân lý chính là sự tôn thờ Thiên Chúa. Chính vì thể, lương tâm là mặc khải của khiên Chúa và chỉ có luân lý khi có niềm tin”.[7]
3. Chúa của Israel và thần của các dân tộc khác
Trong Thánh Kinh, bước khởi đầu của đức tin là kinh nghiệm về một Thiên Chúa hằng tác động qua các biến cố lịch sử. Thiên Chúa mặc khải tên của Ngài. Ngài là Thiên Chúa duy nhất. Dân tộc Israel xác tín về Thiên Chúa duy nhất của mình: “Hãy nghe đây, hỡi Israel. Yahvê Thiên Chúa chúng ta là Yahvê độc nhất. Ngươi sẽ yêu mến Yahvê Thiên Chúa của ngươi hết lòng ngươi, hết linh hồn ngươi, hết sức lực ngươi” (Đnl 6, 4-5: xem Mt 12,20). “Ngươi không có thần nào khác trước mặt Ta” (Xh 20,3); vì Yahvê là “Thiên Chúa ghen tương” (Xh 34,14). Các thần khác không thể cạnh tranh với Yahvê Thiên Chúa: “Trong các thần linh, nào ai được như Người, lạy Yahvê? Nào ai giống được như Người, Đấng oai phong thánh đức, Đấng lẫm liệt kỳ công, Đấng liễu thành sự lạ?” (Xh 15,11); “Vị Yahvê là Thần lớn lao, Vua lớn lao trên cả chư thần” (Tv 95,3).
Tuy nhiên, dân tộc Israel vẫn bị cám dỗ thờ các thần ngoại bang, nhất là thần Baal ở Canaan. Đền thờ Giêrusalem đã có lúc trở thành nơi tôn thờ nhiễu ngẫu tượng và có nguy cơ rơi vào thuyết tương đối (xem 2 V 21-23 và Ed 8). Vì thế, các ngôn sứ đã nổi lên chống lại những sai lạc để Đức Tin Do Thái vào Yahvê duy nhất được tinh tuyền. Thời này, Đức Tin được nhấn mạnh vào Giao Ước của Yahvê với dân người.
Mặc dù lên án việc thờ ngẫu tượng, nhưng dân Israel cũng biết rằng, nơi dân ngoại, không phải ai cũng thờ ngẫu tượng. Các vị thánh ngoại đạo là những ví dụ điển hình. Vua Cyrus đến từ một nước Perse, là một “mục tử”, người được “xức dầu thánh hiến”, đã hoàn thành ước nguyện của Yahvê Thiên Chúa. Dân thành Ninivê, một thành phố ngoại đạo từng bị các ngôn sứ chúc dữ, đã nghe theo lời Gionas mà sám hối và tin vào Thiên Chúa của Israel (Gn 3, 1-10). Cuốn sách ngắn của Giona phát triển thần học tha thứ của Thiên Chúa, với điều kiện con người phải đổi mới con tim. Đây là bằng chứng về tính phổ quát của tình yêu và lòng nhân hậu của Thiên Chúa dành cho mọi dân mọi nước.
4. Nhiệm cục cứu độ: Lời Chúa, Đức Khôn Ngoan và Thần Khí
a/. Lời Chúa
Lời Chúa diễn tả qua Luật Thiên Chúa (Xh 20,1-17; Đnl 5,6-22); Lời Chúa cũng nói lên ý nghĩa các hành động Thiên Chúa trong lịch sử con người. Cựu Ước chứng minh hiệu lực của Lời Chúa qua các việc Ngài làm trong lịch sử Israel; những biến cố giải thoát là bằng chứng của Lời Ngài (Đnl 9,5). Lời Ngài có hiệu nghiệm ngay lập lức qua công trình tạo dựng: “Thiên Chúa phán […]” (St 1,3…; xem Tv 33, 6-9; 107,20). Lời Chúa cũng có một ý nghĩa phổ quát trong Tin Mừng (Ga 1,1-3). Qua Lời, Thiên Chúa đã hướng về tất cả mọi con người để tự mặc khải mình cho họ; đồng thời mời gọi họ hiệp thông chia sẻ sự sống của Ngài. Qua sách Sáng Thế, Thiên Chúa đã ngỏ lời với tất cả mọi người.
b/. Đức Khôn Ngoan
Chỉ một mình Thiên Chúa là Đấng khôn ngoan. Ngài thông ban sự khôn ngoan của Mình cho con người. Trong Cựu ước, đức khôn ngoan của Thiên Chúa là nguồn gốc của mọi khôn ngoan (xem Cn 8; Kn 6-13). Cũng như Lời Chúa, Đức Khôn Ngoan ở gần Thiên Chúa trong công trình sáng tạo (Cn 8, 27-31). Trong lịch sử cứu độ, Thiên Chúa gửi đức khôn ngoan xuống trên con người: “Tuy chỉ một mình, khôn ngoan thật vạn năng, bất di bất dịch trong mình, khôn ngoan lại đổi mới mọi sự, và qua các thời đại, khôn ngoan chuyển đến các linh hồn lành thánh, biến họ thành bạn Thiên Chúa và thành tiên tri” (Kn 7,27). Đức khôn ngoan có lúc được nhân vị hóa (xem Cn 1-9: Kn 6-9), có sức mạnh như Thiên Chúa, cố vấn cho Thiên Chúa (Kn 9,4) hay là hiền thê của Thiên Chúa (Kn 8,3). Đức khôn ngoan được mặc khải để hướng dẫn định mệnh của dân Chúa. Hoạt động của đức khôn ngoan trong hành trình của dân Chúa là một hành động đặc thù, nhưng không có tính loại trừ một dân tộc nào. Vì đức khôn ngoan cùng hiện diện nơi mỗi con người và trong lịch sử của họ. Cũng như Lời Chúa đã hiện thân trọn vẹn nơi Đức Kitô, đức khôn ngoan, trong Tin Mừng thánh Gioan và trong thư của thánh Phaolô cũng hiện thân trong Đức Kitô, người đem ơn cứu độ đến cho tất cả mọi người.
c/. Thần Khí của Thiên Chúa
Thần Khí (ruah) của Thiên Chúa là biểu tượng của năng lực và sức mạnh thần linh của Thiên Chúa hiện hữu từ ngay trong công trình sáng tạo: “Thần Khí là là trên mặt nước” đã làm phát sinh sự sống từ hư vô. Cuộc sống hoàn toàn phụ thuộc vào Thần Khí của Thiên Chúa: “Người sai Thần Khí của Người, chúng được tạo thành và Người đổi mới mặt đất” (Tv 104,30). Nhưng cũng chính trong công trình tạo dựng và tái tạo con người, Thần Khí luôn hiện hữu như là sức mạnh của sự sống. Thần Khí cũng được gọi là “Thánh Thần” (Kn 1,5; 7,22) vì thuộc về thế giới thần linh. Thần Khí Chúa luôn hiện diện trong lịch sử Israel, đặc biệt trên một số người để biến họ thành công cụ cho các hoạt động của Thiên Chúa giữa dân Người. Thần Khí hiện diện trên các vua (1 Sm 16,13); cũng vậy, Thần Khí ngự trên Đấng Thiên Sai trong Isaia (Is 11,2; 42,1; 61,1); Thần Khí cũng ngự trên các ngôn sứ để họ rao truyền Lời Chúa.
Nhưng những hoạt động đặc biệt của Thần Khí trên dân tộc Israel không ngăn cản ảnh hưởng trên toàn bộ nhân loại. “Thần Khí của Thiên Chúa phủ đầy mặt đất” (Kn 1,7). Thần Khí của Thiên Chúa tái tạo cả mặt địa cầu (Tv 104,30). Một chứng từ đặc biệt về hoạt động phổ quát của Thần Khí trên tất cả mọi sinh linh được thể hiện trong sách Khôn Ngoan: “Quả thế, những gì có trong vạn vật, Người đều yêu mến. Người không nhờm tởm sự gì Người đã làm ra, vì Người nắn lên gì, Người không ghét bỏ. Vả lại, có gì tồn tại được, nếu Người không muốn? Làm sao nó được bảo tồn, điều Người đã không gọi đến tên? Với mọi vật, Người xử khoan dung, vì chúng là của Người, lạy Chúa Tể hiếu sinh! Bởi vì có Thần Khí bất hoại của Người trong tất cả mọi sự” (Kn 11, 24 – 12,1).
Tóm lại, trong Cựu Ước, Lời Chúa, Đức Khôn Ngoan và Thần Khí biểu thị tương quan giữa Thiên Chúa và loài người suốt chiều dài lịch sử cứu độ. Lịch sử, từ khởi nguyên cho đến tận cùng, là lịch sử cứu độ, vì Thiên Chúa luôn đối thoại, trao đổi với con người. Lời Chúa, Đức Khôn Ngoan và Thần Khí, chứng minh sự hiện diện của Thiên Chúa, trong khi chờ đợi Lời và Đức Khôn Ngoan nhập thể trọn vẹn trong xác phàm của Đức Kitô, và trong Thánh Thần Thiên Chúa lan tỏa khắp mọi nơi.
II. TIN MỪNG VÀ CÁC DÂN TỘC
1. Đức Giêsu và dân ngoại
Sứ mạng lịch sử của Đức Giêsu chủ yếu được dành cho Israel. Trong Mt 15,24, Đức Giêsu tuyên bố một cách rõ ràng rằng, Ngài chỉ được sai đến “cho đàn chiên lạc nhà Israel”. Khi sai mười hai Tông đồ đi truyền giáo, Ngài dạy họ đừng đến giữa “dân ngoại”, đừng vào trong “các thành phố của người Samari”, nhưng trước hết hãy đến với “các con chiên lạc của nhà Israel” (Mt 10,5-6). Những dữ liệu này hoàn toàn có cơ sở vững chắc và trung thực.
Tuy nhiên, Đức Giêsu cũng rất thán phục lòng tin của viên đại đội trưởng: “Quả thật, Ta bảo các ngươi, Ta chưa hề gặp một lòng tin lớn thế nơi một người nào trong Israel” (Mt 8,10). Lòng tin của người “ngoại giáo” này là dịp để Đức Giêsu loan báo Tin Mừng cứu độ: nhiều người từ phương Đông, phương Tây sẽ được nhận vào nước trời (Mt 8,11-12). Những “người khác” được nhận vào nước trời không chỉ có ở ngày cánh chung, nhưng nó đã được cụ thể hóa trong lịch sử, qua dụ ngôn của những người được mời dự tiệc (Mt 22,1-14; Lc 14,15-24). Sau này Phúc Âm theo thánh Marcô đã tường thuật một lời tuyên xưng Đức Tin đặc biệt trên miệng một người đại đội trưởng dưới chân Thánh Giá: “Quả thực, người này là Con Thiên Chúa” (Mc 15, 39).
Ngoài ra, Đức Giêsu cũng có lần đến nơi lãnh thổ của dân ngoại, vùng Tyrô và Siđôn. Ngài đã gặp những con người không thuộc vào số dân được tuyển chọn. Thêm một lần nữa, Ngài ngạc nhiên trước lòng tin của những người “ngoại đạo” này. Theo Mt 15,21-28, Đức Giêsu đã chữa lành ở đó người con gái của một người đàn bà Canaan bị quỷ ám. Rồi Ngài cũng thán phục lòng tin của bà: “Này bà, lòng tin của bà lớn thật! Bà muốn sao thì hãy được như vậy!” (Mt 15,28).
Hãy tránh các hiểu lầm: các phép lạ được Đức Giêsu thực hiện cho dân ngoại cũng có một ý nghĩa như các phép lạ khác. Phép lạ muốn nói rằng Nước Thiên Chúa đã bắt đầu và luôn hiện hữu (xem Mt 11,4-6; Lc 4,16-22; Mt 12,25-28). Các phép lạ chữa lành bệnh tật và trừ quỷ cho dân ngoại cũng muốn nói rằng, Nước Thiên Chúa đã hiện hữu và ở giữa họ; nước này mở rộng cho những ai vào trong đó với lòng tin và tinh thần sám hối (Xc. Mc 1,15).
Khi Đức Giêsu rời Giuđê đi về Galilê, Ngài đã đi qua vùng Samaria, đến một thành gọi là Sykha (Ga 4,1-6). Đức Giêsu đã có cuộc đối thoại với người phụ nữ thành Samari này. Thánh Gioan đã cho ta biết thêm rằng, “người Do Thái không chung đụng với người Samari” (Ga 4,9), vì họ xem người Samari là người ngoại. Vậy mà Đức Giêsu đã ngạc nhiên trước thái độ sẵn sàng tin và uống nước “hằng sống” của chị (Ga 4,7-15). Ngài cũng không từ chối việc người Samari thờ phượng trên núi Garizim, đối lập với việc người Do Thái thờ Thiên Chúa ở Giêrusalem. Điều Ngài làm là loan báo cho người phụ nữ này biết: “Sẽ đến giờ không phải trên núi này hay tại Giêrusalem mà các ngươi thờ phượng Cha […], nhưng sẽ đến giờ – và là ngay bây giờ – những kẻ thờ phượng đích thật sẽ thờ phượng Cha trong Thần Khí và Sự Thật, vì Cha chỉ muốn gặp những người thờ phượng như thế” (Ga 4,20-23). Như vậy, tất cả các phương thức thờ phượng, Do Thái và dân ngoại, phải nhường chỗ cho việc thờ phượng đích thực trong Thần Khí và Chân Lý.
Cũng không phải ngẫu nhiên mà có dụ ngôn “người Samari nhân hậu”. Thái độ của người Samari nhân hậu hoàn toàn khác với thái độ của thầy tư tế và Lêvi (Lc 10,29-37). Hai người theo đạo dòng đã bỏ mặc nạn nhân (Lc 10,31-32). Trong khi đó, người Samari “ngoại đạo” đã thực hiện giới luật yêu thương (Lc 10,33-36). Đức Giêsu đã khuyên người Do Thái: hãy đi và làm như người Samari (Lc 10,37).
Càng không ngạc nhiên chút nào khi Đức Giêsu tiến về Giêrusalem, đi qua Samari và Galilê, đến một ngôi làng mà Ngài đã gặp mười người phong cùi và chữa lành họ (Lc 17,11-14). Tuy nhiên, chỉ có một người trong số họ, một người Samari ngoại đạo, đã trở lại “sấp mặt xuống chân Người để dâng lời cảm tạ” (Lc 17,15-16). Và Đức Giêsu đã nói: “Không phải cả mười người được sạch ư? Còn chín người kia đâu? Sao không thấy họ trở lại mà chúc khen Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại này? Đoạn Người bảo người ấy hãy chỗi dậy mà đi về; lòng tin của ngươi đã cứu ngươi” (Lc 17,18-19).
Như vậy, chúng ta có thể thấy rõ ràng rằng, đối với Đức Giêsu, cánh cửa đi vào lòng tin, vào sự cứu độ luôn mở cho dân ngoại; không chỉ sau này, nhưng đã được thực hiện ngay từ thời của Ngài. Dân ngoại cũng được mời gọi tham dự vào Nước Thiên Chúa. Lời mời gọi này vượt ra ngoài lãnh thổ Israel. Thái độ này hoàn toàn ngược lại với lời tuyên bố của Ngài được ghi trong Matthêu: Ngài chỉ được sai đến với “các chiên lạc nhà Israel” (Mt 15,24).
Trong cuốn sách với tựa đề: Đức Giêsu và dân ngoại[8], Jeremias đã thử giải thích mâu thuẫn giữa hai thái độ: một mặt, Đức Giêsu chỉ hạn chế các hoạt dộng của Ngài ở Israel, và khi còn sống, Ngài bảo các môn đệ không được vượt ra khỏi ranh giới của Israel; mặt khác, Ngài luôn bảo đảm một chỗ chắc chắn cho dân ngoại trong Nước Thiên Chúa. Jeremias giải thích như sau: “Lời mời gọi Israel và việc đón nhận dân ngoại vào trong Nước Thiên Chúa là hai yếu tố nối kết nhau trong lịch sử cứu độ”.[9]
2. Giáo Hội thời các thánh Tông đồ và dân ngoại
Sau biến cố Chúa Giêsu sống lại, Giáo Hội đã loan báo Tin Mừng Phục Sinh (Mc 16,15). Tuy nhiên, Giáo Hội thời các Tông đồ chỉ ý thức một cách tiệm tiến tính phổ quát của sứ mạng truyền giáo. Tin Mừng được loan báo trước hết cho người Do Thái, kế đến là người Hy Lạp gốc Do Thái, rồi sau đó cho người Hy Lạp. Phaolô và Barnabe cùng với Giáo Hội thành Antiôkia là những người đóng vai trò hàng đầu trong việc phổ biến Tin Mừng ngoài lãnh thổ Do Thái. Điều quan trọng đối với chúng ta là xem thái độ của Giáo Hội thời các Tông đồ đối với các tôn giáo khác như thế nào?
Những chỉ dẫn trong Tân Ước liên quan đến thái độ của Giáo Hội thời các Tông đồ với dân ngoại rất phức tạp và đa chiều[10]. Bước chân đầu tiên đến với dân ngoại được thực hiện bởi Phêrô, khi ông giảng cho gia đình một viên đại đội trưởng tên là Conêliô ở Xêxarê (Cv 10,1-44). Luca ghi lại rằng, khi Phêrô loan báo Tin Mừng của Đức Giêsu thì “Thánh Thần đã ngự xuống trên tất cả những người đang nghe Lời Thiên Chúa” (Cv 10,44). Chính “điều kinh ngạc vì thấy Thiên Chúa cũng ban Thánh Thần xuống trên cả dân ngoại nữa” (Cv 10,45), đã trở thành dấu chỉ cho Phêrô xác tín rằng họ cũng được mời gọi. Và Phêrô đã cảm nhận được rằng, dân ngoại cũng được Thiên Chúa chấp nhận: “Quả thật, tôi biết Thiên Chúa không thiên vị người nào. Nhưng hễ ai kính sợ Thiên Chúa và ăn ngay ở lành, thì dù thuộc bất cứ dân tộc nào, cũng đều được Người tiếp nhận” (Cv 10,34-35).
Đối với thần học Thánh Phaolô liên quan đến dân ngoại cũng phức tạp không kém. Ai cũng biết thái độ bi quan của Phaolô trong thư gửi các tín hữu Rôma. Phaolô tuyên bố rằng cơn giận của Thiên Chúa sẽ giáng xuống trên dân ngoại, vì họ không nhận biết mặc khải triền miên của Thiên Chúa qua vụ trụ (Rm 1,18-32). Tuy nhiên, dân Do Thái cũng bị cùng một lời kết án, dù họ nhận được ân huệ đặc biệt của Thiên Chúa (Rm 2-3). Tình trạng đặc thù không làm cho họ tránh khỏi sự luận phạt. Đối với Phaolô, ân sủng thì khác nhau, nhưng hoàn cảnh của người Do Thái cũng như dân ngoại, tất cả đều được xét xử theo hành động họ làm: “Dân ngoại là những người không có luật Môsê, nhưng mỗi khi họ theo lẽ tự nhiên mà làm những gì luật dạy, thì họ là luật cho chính mình, mặc dầu họ không có luật Môsê. Họ cho thấy điều gì Luật đòi hỏi thì được khắc ghi trong lòng họ. Lương tâm họ cũng chứng thực điều đó, vì họ tự phán đoán trong lòng, khi thì cho mình là trái, khi thì cho mình là phải” (Rm 2,14-15). Lòng tin cứu chữa con người tương xứng với ân sủng họ lãnh nhận.
Có một điều chắc chắn là, với Phaolô, người kitô hữu có một địa vị đặc thù. Một khi được ban tặng cho họ, Đức Tin như huấn lệnh của Thiên Chúa, sẽ xóa bỏ hết các giá trị của tôn giáo cũ (Rm 6,6; 2 Cr 5,17; Ep 4, 22; Cl 3,9). Tuy nhiên, đây là một suy tư liên quan đến hoàn cảnh đặc thù của những người mới khám phá Đức Giêsu và bước theo chân Ngài (Rm 6,4; 7,6; 2 Cr 5,17; Gl 2,15.4,8-11). Đây không phải là một tuyên bố về nguyên lý, cũng chẳng phải là việc chối từ các giá trị cao cả trong các tôn giáo khác.
Dù vậy, các bài thuyết giảng được cho là của Phaolô trong Công Vụ Tông Đồ ở Lýt-tra (Cv 14,8-18) và sau đó là trước Hội đồng Arêôpagô thành Athêna đã nói lên thái độ “cởi mở” của vị “Tông đồ dân ngoại” liên quan đến vấn đề tôn giáo của họ. Ở Lýt-tra, Phaolô nhìn thấy một người bại hai chân ngồi nghe Phaolô giảng. Nhận thấy “anh có lòng tin để được cứu chữa”, Phaolô liền chữa lành cho anh (Cv 14,8-11). Khi nhận định về tôn giáo của người Hy Lạp, một tôn giáo đã cũ so với Đức tin vào Đức Kitô, Phaolô viết: “Trong những thế hệ đã qua, Người để cho muôn dân đi theo đường lối của họ. Tuy vậy, Người không ngừng làm chứng cho mình, khi thi ân giáng phúc, ban mưa từ trời và mùa màng sung túc cho các bạn, và cho các bạn được no lòng, được an vui” (Cv 14,16-17). Điều này hoàn toàn phù hợp với mặc khải thường hằng của Thiên Chúa qua vũ trụ, mà thư gửi các tín hữu Rôma đã đề cập tới (Rm 1,18-32). Thiên Chúa tỏ mình qua “tự nhiên” là một mặc khải thần tính.
Bài giảng của Phaolô ở Athêna (Cv 17,22-31) khẳng định rõ nét hơn nhận định trên. Ở đây, Phaolô ca ngợi tinh thần tôn giáo của người Hy Lạp và loan báo cho họ “Thiên Chúa vô danh” họ tôn thờ mà chẳng biết. Mặc cho những tranh cãi của khoa chú giải Thánh Kinh liên quan tới nguồn gốc của bản văn này, ta có thể khẳng định rằng sứ điệp mà bài giảng này muốn nói tới là giá trị của các tôn giáo không bị xem thường, nhưng nó được kiện toàn trong Đức Kitô. So với những gì Đức Giêsu ban tặng, các giá trị trong các tôn giáo xem ra còn rất hạn chế; nhưng điều đó không ngăn cản việc xem các tôn giáo khác là những chuẩn bị tích cực cho Đức Tin Kitô giáo. Bằng chứng là sau bài giảng này, dù có nhiều người bỏ đi khi Phaolô đề cập tới vấn đề Đức Giêsu sống lại, “nhưng có mấy người đã theo ông và tin Chúa, trong số đó có ông Điônyxiô, thành viên Hội đồng Arêôpagô và một phụ nữ tên là Đamari cùng những người khác nữa” (Cv 17,34). Thành công này của Phaolô mở đường cho một “chiến thuật truyền giáo”, đó là cách tiếp cận tích cực đối với tôn giáo của người Hy Lạp.
Khi so sánh thái độ của Phaolô trong Rôma 1 và trong Công vụ Tông đồ 17, Legrand kết luận rằng hai đoạn văn này “có hai hướng […], hướng kế thừa và hướng gián đoạn”. Hướng gián đoạn muốn nhấn mạnh tới cái mới triệt để nơi Đức Giêsu, đặc biệt nơi sự sống lại của Người, và qua đó muốn nói rằng thế giới cũ đã qua là lầm lỗi và tội lỗi; Đó là cách nhìn của Rôma 1. Ngược lại, hướng kế thừa nhấn mạnh tới tính đồng nhất của ơn cứu độ được diễn ra trong suốt chiều dài của lịch sử hoàn toàn phù hợp với chương trình của Thiên Chúa; Đây là cách nhìn của Công vụ Tông đồ 17, theo đó, các tôn giáo của dân ngoại mà tiêu biểu là thế giới Hy Lạp, đang đợi chờ một “Thiên Chúa vô danh”, đồng thời họ cũng được các thần học gia và các nhà thơ trong nền văn hóa này chuẩn bị để gặp gỡ Thiên Chúa[11]. Cũng theo Legrand, sở dĩ có hai thái độ khác nhau này là vì liên quan tới hai con người khác nhau. Phaolô khi mới trở lại nhận thấy những cái mới triệt để nơi Đức Kitô. Trong khi đó, kinh nghiệm của Luca viết vào những năm 80, và có thể trễ hơn, một kinh nghiệm được tiếp nối trong thời gian. Trong truyền thống của Giáo Hội, hai khuynh hướng này luôn tồn lại.
Khi đề cập tới Giáo Hội thời các Tông đồ với dân ngoại, ta không thể không nói tới cách nhìn của Gioan, đặc biệt qua lời mở đầu Tin Mừng của Ngài. Theo Gioan, tất cả lịch sử cứu độ, bắt đầu từ khi sáng tạo, được bàn tay Thiên Chúa nhào nặn qua Ngôi Lời. Lịch sử này, từ lúc khởi nguyên (Ga 1,1), đã được sắp đặt cho việc Nhập Thể của Ngôi Lời trong nhân loại (Ga 1,14). Nhưng ngay cả trước khi Nhập Thể, Ngôi Lời luôn hiện diện trong thế giới như là nguồn gốc của sự sống (Ga 1,4), như “ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người. Người ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có” (Ga 1,9-10). Như vậy, Ngôi Lời chưa nhập thể, nhưng đã hiện hữu một cách tích cực trong lịch sử nhân loại. Nhưng việc nhập thể của Ngôi Lời là đỉnh cao của Mặc Khải mà Thiên Chúa tỏ bày cho nhân loại, một mặc khải phủ kín cả lịch sử con người: “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1,14). Chính vì Ngôi Lời đã hiện diện trong lịch sử nhân loại, và Ngôi Lời này đã nhập thể trong cung lòng nhân loại và cho nhân loại, nên chúng ta được phép nhìn nhận những giá trị tích cực của các tôn giáo trong cung lòng nhân loại.
Kết luận
Trên đây là những dữ liệu từ Cựu Ước và Tân Ước, như là hành trang để chúng ta tiếp cận với các tôn giáo khác. Chúng ta cũng đừng quên rằng Kinh Thánh không trực tiếp giải quyết những câu hỏi mà thần học tôn giáo đang tìm kiếm câu trả lời trong bối cảnh đa phức tôn giáo hôm nay. Lời Chúa được mặc khải chủ yếu nhấn mạnh đến vai trò ưu tiên của Israel trong Cựu Ước và của người kitô hữu trong Tân Ước. Vì thế, các tôn giáo khác phải nhường chỗ. Tuy nhiên, dù còn những mơ hồ hiện hữu trong những dữ liệu tích cực cũng như tiêu cực, các Sách Thánh đã trao tặng cho chúng ta một hướng đi tích cực trong cách nhìn nhận các tôn giáo khác, nhất là khi tiếp nhận một Thiên Chúa luôn đối thoại với con người, để cứu độ con người.
Để tóm tắt phần này, ta có thể dùng những lời của H. R. Schlette: “Chắc chắn là chúng ta không có quyền đề cao quá mức nội dung thần học của lịch sử Noê cũng như bài giảng ở Arêôpagô; nhưng chúng ta cũng không được phép khinh thường các tuyên bố này. Nó là cơ sở để chúng ta nhìn các tôn giáo khác dưới một lăng kính tích cực rõ ràng, vì Thánh Kinh nhìn nhận các tôn giáo khác cũng có tương quan cụ thể với Thiên Chúa. Mặt khác, chúng ta không được quên rằng, cũng theo Thánh Kinh, chúng ta không thể gắn bó với Đức Tin Kitô giáo mà không có một quyết định dứt khoát, một quyết định mà chúng ta sống khác xa với quá khứ của mình”.[12]
[1] V. BOUBLIK, Teologia delle religioni, tr. 41. Lời trích này lấy từ Jacques DEPUIS, Vers unethéologie chrétienne du pluralisme religieux, Cerf, 1997, tr. 13.
[2] W. Cantwell Smith, Towards a World Theology: Fait and the Comparative History of Religion, Philadelphie, Westminster, 1981.
[3] R. MURRAY, The Cosmic Covenant, p. 13: “Ngôn ngữ giao ước không dùng trong trình thuật tạo dựng. Tuy nhiên, ngoài sách Sáng Thế, có những ám chỉ gợi lên ý tưởng về sự hiện hữu một giao ước vũ trụ. Làm đảo lộn trật tự vũ trụ được xem là cắt đứt tương quan với Giao Ước”.
[4] Dấu chỉ của Giao Ước với Abraham là cắt bì; còn dấu chỉ của giao ước với Maisen là Giới Răn mà toàn bộ dân phải tuân giữ.
[5] Jean DANIELOU, Les Saints “paiens” de l’Ancien Testament, tr. 37.
[6] IRENE DE LYON, Contre les hérésies, III, 11, 8 (SC 211, tr. 169-171).
[7] Jean DANIELOU, Les Saints “paiens” de l’Ancien Testament, tr. 166.
[8] J. JEREMIAS, Jésus et les paiens, Neuchâtel, Delachaux et Niesttlé, 1956.
[9] J. JEREMIAS, Jésus et les païens, Neuchâtel, Delachaux et Niesttlé, 1956, tr. 63.
[10] Xc. J. DUPONT, The Salvation of the Gentiles.
[11] Xc. L. LEGRAND, “Jésus et I’Eglise primitive. Un éclairage biblique”, tr. 64-77.
[12] H. R. SCHLETTE, “Religions”, trong: H. FRIES (éd), Encyclopédie de la foi, vol. IV, tr. 64.
