✉ hylecuoicung@gmail.comTrang thông tin Huấn Giáo

Quan Niệm Về Ơn Cứu Độ Của Kitô Giáo Trong Bối Cảnh Của Việc Đối Thoại Liên Tôn Hiện Nay

Hơn bốn thập niên qua, kể từ sau Công đồng Vaticanô II (1962-1965), Giáo hội Công giáo hoàn vũ như được tiếp thêm luồng gió mới của Thánh Thần để mở tung cánh cửa truyền thống đón nhận những bước chuyển của thời đại.

Phêny Ngân Giang, OP.

 

Hơn bốn thập niên qua, kể từ sau Công đồng Vaticanô II (1962-1965), Giáo hội Công giáo hoàn vũ như được tiếp thêm luồng gió mới của Thánh Thần để mở tung cánh cửa truyền thống đón nhận những bước chuyển của thời đại. Có lẽ, còn chưa đủ yếu tố thời gian về mặt sử học để có thể đánh giá ưu và khuyết của những gì đang diễn ra như là một hệ quả của Công đồng. Tuy nhiên, sự chuyển biến trong việc Hội nhập văn hoá và Đối thoại liên tôn, đặc biệt trong bối cảnh của lục địa Á Châu, có thể được xem là một bước tiến dài và mang lại ảnh hưởng sâu rộng trong việc loan báo Tin Mừng của Đức Kitô. Chính Giáo hội đang khi tìm lối bước vào con đường đối thoại với các nền văn hoá và tôn giáo lớn vẫn luôn không ngừng làm mới mình mỗi ngày trong việc trình bày dung mạo Thiên Chúa và Ơn Cứu Chuộc của Người cho hết thảy nhân loại.

1. LỜI MỜI GỌI CỦA ƠN CỨU CHUỘC

Một tiền đề quan trọng và cũng là một thách đố lớn cho nền thần học Kitô giáo, khi mọi thành phần tín hữu vừa muốn sống trọn vẹn niềm tin Tông truyền của mình vừa muốn mở lòng đón nhận một thế giới đa nguyên tôn giáo mà Công giáo cũng là một trong những số đó, chính là việc đọc ra mầu nhiệm Ơn Cứu Chuộc được thực hiện nơi Đức Giêsu Kitô trong Hội thánh. Có lẽ, điều làm chúng ta “khúc mắc” khi suy tư là làm sao dung hoà giữa một bên là kết quả của những suy diễn thần học và một bên là thực tại rõ ràng mà Thiên Chúa quan phòng đã định liệu. Nói khác đi, việc tìm ra câu trả lời cho Ơn Cứu Chuộc của hết thảy mọi người ra như không còn rơi vào hai thái cực “có” và “không” nữa, mà thay vào đó là việc khiêm tốn tìm hiểu ý định Thiên Chúa thực hiện giữa lòng nhân loại. Hiểu như vậy không có nghĩa là đặt mình vào tình trạng “lừng khừng”, không có câu trả lời; trái lại, chính khi nhìn vào kho tàng mạc khải, Hội thánh xác quyết hơn những gì mình được trao phó như “công cụ” Thiên Chúa dùng để loan báo cho nhân loại Lời Cứu Chuộc duy nhất.

a. Phổ quát và duy nhất

Quả thế, Thiên Chúa đã dùng một Lời duy nhất để kêu gọi hết thảy mọi người, những ai thành tâm thiện chí, vì chính Đức Kitô đã chết cho tất cả mọi người và con người chỉ có một sứ mạng cuối cùng và duy nhất là được làm con Thiên Chúa.[1] Như vậy, lời mời gọi “ân huệ” này là lời phổ quát vì không một ai trong nhân loại bị tiên quyết loại khỏi tình thương của Thiên Chúa, trừ khi chính họ là người tự loại mình khỏi lời mời gọi ấy.

Bên cạnh đó, đang khi rao giảng Ơn Cứu Chuộc phổ quát của Thiên Chúa thì Hội thánh cũng xác quyết trong niềm tin của mình dưới ánh sáng Kinh Thánh rằng Thiên Chúa đã thực hiện điều ấy một cách duy nhất nơi Đức Giêsu Kitô.[2] Tuy nhiên, ra như công trình mà Thiên Chúa thực hiện còn đang đợi kết quả trổ sinh nơi tâm hồn thụ tạo vì lẽ không phải ai ai cũng đón nhận, hay chí ít không phải mọi nền văn hoá-tư tưởng đều thuận lợi để hạt mầm Lời nảy nở. Nói khác đi, một quan niệm về Ơn Cứu Chuộc không được dừng lại ở việc trình bày sự hiểu biết về mầu nhiệm ấy nhưng cần được đẩy xa hơn trong việc cảm nghiệm và sống tâm linh chiều kích ấy trong mọi tương giao của bối cảnh đa nguyên này.

b. Từ một Thiên Chúa: thương xót – liên luỵ – ở cùng

Thật vậy, mảnh đất Á Châu có thể nói là cánh đồng mầu mỡ cho các chiều kích tâm linh được nẩy nở và hoàn trọn chính mình. Người Á Châu, trong đó có dân tộc Việt Nam, mang sẵn trong mình tố chất “hướng thiêng” tìm về Đấng Tuyệt Đối. Có lẽ đây là sự quan phòng tuyệt vời khi chính Đức Giêsu Kitô thực hiện Ơn Cứu Chuộc cho nhân loại trong môi trường ấy. Người Á Châu đang khi sẽ khó hiểu những lối trình bày “khuôn thước” về ý niệm Cứu Chuộc ngang qua những thuật từ triết học của Tây Phương, thì lại hoàn toàn “đồng cảm” và hiểu rõ mình được Thiên Chúa cứu chuộc thế nào khi Người là một gôêl của dân Người.[3] Quả thế, lịch sử Israel cho thấy Thiên Chúa thực hiện “cuộc giải phóng” họ ra sao: xét về lý, Người không bao giờ chối bỏ giao ước Người đã ký kết; xét về tình: chính Người tự đặt mình vào vai trò “chịu liên luỵ” do tội lỗi của dân. Và như vậy, ý niệm Cứu Chuộc không gì khác hơn là biểu lộ sự hoà giải, tha thứ nơi lòng thương xót của Thiên Chúa.

Hiểu như thế, chúng ta tự tin để có thể trình bày Ơn Cứu Chuộc mà Đức Giêsu Kitô đã thực hiện một cách phổ quát và duy nhất cho nhân loại. Cách riêng, với các dân tộc Á Châu, lời rao giảng về Đức Kitô sẽ được đón nhận hơn khi đó là lời trình bày về một Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta trong “cái tình, cái nghĩa” của Đấng “vốn dĩ là Thiên Chúa…” mà trở nên một người trong con người.[4] Nhờ vậy, trong cùng một phép Thánh Tẩy mà tất cả sự thật được phơi bày cách hiển hiện: con người được dự phần “làm con” trong một Đức Giêsu Kitô duy nhất.

c. Đến một Hội thánh trong thế giới

Tuy nhiên, lộ trình của lời mời gọi Cứu Chuộc mà Thiên Chúa đã và vẫn đang thực hiện trong thế giới nhân loại có một hướng đi rõ ràng. “Công nghiệp” của Đức Kitô không phải là sự thành tựu thuộc về trần gian nhưng là sự viên mãn của thời cánh chung. Chính khi phải thể hiện thực tại vô hình thì Thiên Chúa ra như lại hành động cách hữu hình để mọi cảm thức con người không bị chới với trong viễn cảnh to lớn ấy. Lời mời gọi Cứu Chuộc là một thực tại thuộc về viễn cảnh ấy lại được Đức Giêsu Kitô làm cho nên cụ thể qua việc thiết lập Hội thánh của Người trên trần gian này. Như vậy, nếu nhìn từ góc độ cánh chung, chúng ta không còn bị rơi vào hai thái cực của sự phân biệt “trong Hội thánh” và “ngoài Hội thánh” hay nói khác đi, đó là sự phân biệt giữa “Hội thánh” và “thế giới” nữa.

Có lẽ điều nói trên đây không phải là sự lạc quan ngây thơ, trái lại đó là sự khẳng định có nền tảng trong niềm tin. Nếu nhìn thực tại Hội thánh như là việc “thấm nhiễm” và “lan rộng” thì có thể nói rằng thế giới này đang “trở thành” một Hội thánh duy nhất. Như vậy, đang khi thực tại hữu hình vẫn cho thấy những giới hạn giữa “trong” và “ngoài”, giữa “có” và “không” thì thực tại viên mãn lại cho thấy một sự hợp nhất chung cuộc mà Thiên Chúa khi hành động theo cách thức của Người [5] vẫn cho những kẻ tin thấy trước thực tại chung cuộc ấy.

2. VƯỢT XA HƠN CUỘC TRANH LUẬN HIỆN NAY

Lời mời gọi của Ơn Cứu Chuộc vẫn còn bị “treo” đó trước nhiều quan điểm khác nhau. Có những lập trường mạnh mẽ tuyên bố rằng: có Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Thế nhưng không có Kitô giáo; có Thiên Chúa nhưng không có Hội thánh Công giáo! Đan xen đó, Thần học Tôn giáo cũng tìm lời đáp trả như là một khẳng định niềm tin của mình qua các lối nhìn: quy Thiên Chúa, quy Kitô hay quy Hội thánh! Ra như cuộc tranh luận vẫn còn bỏ ngỏ và Thiên Chúa vẫn phải “chờ đợi” con người giải quyết những khúc mắc của mình.

Tuy vậy, Kitô giáo vẫn nỗ lực cho thấy mình trung thành với gia sản đức tin Tông truyền đang khi vẫn không ngừng nghỉ thực hiện những cuộc Đối thoại liên tôn cũng như khám phá những phương thế hữu hiệu khác để trình bày chân lý đức tin ấy. Đang khi mà những bất đồng quan niệm còn bị bế tắc ở những vấn đề đặc thù thì mầu nhiệm Ơn Cứu Chuộc lại có thể được trình bày trên bình diện một chân lý phổ quát khả dĩ mọi người có thể đón nhận.

Chúng ta có thể lấy lại ở đây cái nhìn về hoạt động của Thánh Linh trong thần học của Chân phước Gioan Phaolô II như là cầu nối khai thông, hầu đưa đến chiều sâu tâm linh hơn là những tranh luận bên ngoài, và hẳn nhiên, điều này có ý nghĩa đặc biệt trong cách nhìn của người Á Châu. Tựu trung, sự khai triển này có thể được tóm kết qua hai điểm sau:[6]

– Thánh Linh hoạt động vượt ngoài biên giới Thân Thể Nhiệm Mầu của Chúa Kitô là Hội Thánh.[7] Điều này cho thấy mọi nguồn mạch tâm linh đều xuất phát bởi Thánh Thần. Nói khác đi, khắc khoải hiện sinh và tôn giáo nơi hữu thể con người không phải do hoàn cảnh bất tất làm nảy sinh nhưng đó chính là bản chất cấu trúc nơi hữu thể con người mà chỉ Thánh Thần là Đấng ở ngay nơi chính nguồn gốc của bản chất ấy khơi gợi lên.[8] Như thế, Thánh Linh hoạt động phổ biến trong việc trao ban cho nhân loại khả năng đón nhận mầu nhiệm cứu chuộc được thực hiện nơi Đức Giêsu Kitô.[9]

– Như thế, trong cách mà Thần Khí hoạt động và làm cho mọi người được thông dự vào mầu nhiệm phục sinh thì cũng chính Thần Khí ấy đã hoạt động nơi mầu nhiệm Nhập Thể và là Đấng đang hoạt động trong Hội Thánh.[10] Một lần nữa, chính Thánh Thần làm cho mọi “dạng thức trung gian thông dự”[11] được hưởng cùng một ơn cứu chuộc đã được ban rồi nơi mầu nhiệm Đức Kitô Nhập thể, Tử nạn và Phục sinh.

Một cách nào đó, mầu nhiệm Cứu Chuộc được trình bày dưới cái nhìn nghiêng chiều về giá trị nội tâm hơn là những qui chuẩn gây tranh cãi mà thực chất vẫn chưa lột tả hết điều cần nói. Hoạt động của Thần Khí Thiên Chúa trong cái nhìn Á Châu hẳn đã gồm tóm trong đó không chỉ là một Sức Sống Uyên Nguyên được ban tặng nhưng còn là cuộc trình hiện tất cả những chiều kích thuộc về lịch sử bản thân được tháp nhập vào dòng chảy lịch sử vô tận trong ý định cứu chuộc của Thiên Chúa. Người Châu Á cảm nhận Ơn Cứu Chuộc không như là một sự bắt buộc cho bằng đó là hành động tự nguyện phát xuất từ tiếng gọi nơi thẳm sâu tâm hồn. Chính vì vậy, một thần học về Thần Khí là lối trình bày khả dĩ tạo lập được “mối tương quan” nơi những tâm hồn nhạy cảm với những gì là linh thánh và chiều kích mầu nhiệm đã được ban nơi Đức Giêsu Kitô trong một Thiên Chúa duy nhất.

3. Mầu nhiệm Thiên Chúa – Mầu nhiệm của đối thoại và xây dựng

Có lẽ còn một vấn đề nữa mà chúng ta khó có thể bàn luận một cách rốt ráo được: vấn đề Giáo hội và Ơn Cứu Chuộc. Người viết không có tham vọng trình bày vấn đề này cho bằng gợi lên một suy nghĩ khả dĩ có thể nhìn nó dưới một góc độ khác. Từ “vấn đề Đức Kitô” đến “vấn đề Giáo hội” đã đưa đến không biết bao nhiêu lập trường và quan điểm. Một trong các lập trường cứng rắn ấy có thể nói đến là Tuyên ngôn Dominus Iesus.[12] Tuy nhiên, cốt lõi của những suy tư thần học này vẫn không nằm ngoài câu hỏi rất lớn về mầu nhiệm Thiên Chúa thực thi giữa lòng nhân loại.

Niềm tin Công giáo dạy chúng ta biết rằng chính Ba Ngôi Thiên Chúa đã thực hiện toàn bộ kế hoạch Cứu Chuộc này. Một “cộng đoàn” mà trong đó Ba Ngôi cùng “đối thoại” và “thực hiện” là mầu nhiệm tỏ bày cho hết thảy mọi dạng thức tâm linh và tôn giáo đang khát vọng thấy điều ấy được thực thi giữa lòng nhân loại. Hội thánh được thiết lập để diễn tả chiều kích sâu thẳm đó trong tương quan đối thoại và xây dựng. Chính vì thế, Hội thánh sống sứ mạng nhận lãnh từ Ba Ngôi là trở nên thấm nhiễm và lan truyền chứ không phải là chinh phục và thâu tóm!

Như vậy, trong bầu khí đa nguyên, thay vì đặt ra câu hỏi: Có hay không việc đa nguyên tôn giáo? Có hay không những dạng thức song song của những con đường cứu chuộc? Có hay không một vị giáo chủ tối cao thống lãnh mọi tôn giáo?… Chúng ta nên nghĩ đến việc thực thi vai trò của người loan báo Tin mừng với niềm xác tín sâu xa được khơi gợi từ Thánh Thần. Một khi để cho mình trở thành “công cụ” đắc lực của Thần Khí thì cũng chính là lúc người tin chạm đến tâm điểm thẳm sâu nhất của mầu nhiệm Ba Ngôi. Chính ở nơi tâm điểm ấy, cả thế giới này nên một trong Đấng là Thiên Chúa Cha tác sinh tất cả, trong Đấng là Lời trở nên xác phàm cứu chuộc nhân loại và trong Đấng là Thần Khí Sự Thật làm cho tất cả được hiển lộ trong ân sủng.

Tóm lại, bản chất niềm tin Kitô giáo chưa bao giờ và cũng không bao giờ là một niềm tin “nuốt chửng” mọi hữu thể tự do khác. Trái lại, niềm tin Cứu Chuộc được mạc khải nơi Đức Kitô mà Hội thánh cưu mang lại là phương thế được trao ban cho tất cả. Mỗi Kitô hữu trở nên người loan báo niềm tin Cứu Chuộc ấy trong sức mạnh và ơn thánh hoá của Thần Khí, để tất cả những gì thành tựu đều là do ý muốn và sự quan phòng của một Thiên Chúa Ba Ngôi duy nhất mà thôi.


[1] Vat.II, Gaudium et Spes (GS), số 22.5.
[2] GS, số 10.2; Tuyên ngôn Dominus Iesus (DI), số 13.
[3] Nguyễn Ngọc Rao, Các Sách Ngôn Sứ (knxb, 2006), tr. 141-142. Cũng xem Franscis Schussler Fiorenza, “Redemption”,  in Joseph A. Komonchak et al. (eds.) The New Dictionary of Theology (Minnesota: The Liturgical Press, 1987), p. 836-851.
[4] Nguyễn Thái Hợp, Đức Giêsu Kitô và các con đường cứu độ khác, http://www.conggiaovietnam.net/ index.php?m=module2&v=detailarticle&id=98&ia=8931; truy cập ngày 07-12-2011.
[5]  GS, số 22; DI, số 21.
[6] James Fredericks, “The Catholic Church and the Other Religious Paths: Rejecting Nothing That Is True and Holy”, Theological Studies, 64 (2003), 225-254. Bài viết trên trang http://www.questia.com/browselibrary/ journalArticles.jsp?r=5002066173&o=2003|06|01|064|002|06; truy cập ngày 23-23-2011.
[7]  Redemptor hominis (1979), số 6.
[8] Dominum et vivificatem, số 28.
[9] Gaudium et Spes, số 22.
[10] Redemptoris missio (1990), số 28.
[11] Hiến chế Lumen gentium, số 62 có nói đến con đường thông dự này nơi các tôn giáo khác  này.
[12] James Fredericks, op. cit.
Thần Học Các Tôn Giáo